Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Chỉ có trẻ con mới tin lời ông Tuấn: *"Đây...

Giang Le shared a post with you on Google+. Google+ makes sharing on the web more like sharing in real life. Learn more.
Join Google+
Chỉ có trẻ con mới tin lời ông Tuấn:

"Đây là hợp nhất tự nguyện do chính ba ngân hàng đề nghị, chứ không phải là sáp nhập bắt buộc như các tin đồn trước đó."

Từ trước tới giờ tôi vẫn phản đối chủ trương giảm số lượng ngân hàng thương mại và bắt các ngân hàng phình to ra (tăng vốn điều lệ). Tuy nhiên khi NHNN đã kiên quyết theo đuổi chính sách này thì nên làm nhanh và mạnh tay để giải tỏa uncertainty trong hệ thống. Bởi vậy tôi hoan nghênh vụ ép sáp nhập vừa rồi, kể cả nếu nhà nước có phải bỏ tiền recapitalize cho họ.

Điều tôi không tán thành là NHNN cứ chối quanh việc mình ép 3 ngân hàng kia sáp nhập. Tôi nghĩ đây là một chiến thuật sai lầm, đúng ra NHNN nên tuyên bố thẳng thừng 3 ngân hàng kia không đảm bảo mức độ an toàn liquidity và CAR nên NHNN sẽ đứng ra tái cấu trúc lại bằng cách yêu cầu họ phải sáp nhập. Nguyên tắc căn bản của quá trình tài cấu trúc là phần lớn nợ xấu phải được write off hoặc chuyển sang một SIV (giống như vụ Bear Stearns). Tất nhiên shareholders hiện tại sẽ bị mất vốn, thậm chí sẽ trắng tay và không còn cổ phần trong ngân hàng mới.

Để đảm bảo cho ngân hàng mới có đủ vốn hoạt động theo luật định, NHNN sẽ phải rót vốn (recapitalize) vào và trở thành một cổ đông mới. Nếu cơ sở pháp lý không cho phép NHNN trở thành cổ đông thì có thể thông qua một trung gian như BIDV hoặc một quĩ đầu tư nào đó. NHNN sẽ cam kết là sau khi lộ trình tái cấu trúc kết thúc toàn bộ số cổ phần của nhà nước sẽ được bán lại cho tư nhân, có thể qua IPO (như trường hợp General Motors năm 2009) hoặc private placement cho những nhà đầu tư lớn. Đây là phương pháp Thụy Điển đã làm trong những năm 1990 để tái cấu trúc (rất thành công) hệ thống ngân hàng của họ.

NHNN có thể cam kết sẽ hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng mới này, hoặc thông qua BIDV hay các ngân hàng khác hoặc trực tiếp từ discount window của mình. Thực ra sau khi recapitalize thì vấn đề thanh khoản của ngân hàng mới này sẽ không còn quá khó khăn nữa và họ cũng có balance sheet tốt hơn nên sẽ dễ dàng đi vay liên ngân hàng hơn. Một biện pháp khác khá cứng rắn mà NHNN có thể làm, vừa để tránh khó khăn thanh khoản cho ngân hàng mới này ngay sau khi nó được công bố vừa để cảnh cáo những người gửi tiền tham lãi suất cao (chống moral hazard), là freeze toàn bộ withdrawal từ các tài khoản hiện hữu trong vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi quá trình thương thuyết recapitalize hoàn tất.

Tóm lại tôi muốn thấy NHNN mạnh tay hơn trong vụ này, vừa để tăng credibility vừa để đồng tiền mà mình bỏ ra (taxpayers' money) để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có tác dụng mạnh nhất. Tiếc là NHNN có vẻ vừa làm vừa run, lo những việc đâu đâu như ... "ném chuột vỡ bình".
VnEconomy - Ba ngân hàng hợp nhất, người trong cuộc nói gì? - Tài chính
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, BIDV và các thành viên SCB, Ficombank và TinNghiaBank nói về sự kiện hợp nhất
View or comment on Giang Le's post »

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Vinashin default II



Cuối năm ngoái tôi có viết một entry về vụ Vinashin default trong đó tôi khuyến nghị chính phủ VN không nên/không cần đứng ra trả nợ thay cho Vinashin. Vừa rồi FT cho biết một trong các chủ nợ đã chính thức kiện Vinashin ra một tòa án ở Anh để đòi nợ (thời điểm tôi viết entry nói trên tôi đoán nhầm luật chi phối hợp đồng vay là luật Singapore nên các chủ nợ sẽ kiện ra tòa Singapore). Tuy nhiên tôi tin những lập luận của tôi trong entry đó vẫn chính xác và bài báo của FT link bên trên cũng có nhiều lập luận tương tự. Nói ngắn gọn là thực ra chủ nợ của Vinashin sẽ có rất ít leverage trong vụ này vì dù tòa ở Anh có xử thắng cho họ (gần như chắc chắn như vậy), Vinashin sẽ đối phó bằng cách nộp đơn xin phá sản ở một tòa của VN. Lúc này khoản nợ $600m của Vinashin sẽ được chế tài theo "pari passu clause", nghĩa là được đối xử ngang bằng với các khoản nợ không thế chấp khác trong nước. Với tình trạng làm ăn bê bết và tài sản thất thoát/hư hỏng nặng nề trong vài năm qua, nhiều khả năng sau khi trả hết nợ có thế chấp thì tài sản của Vinashin chẳng còn gì để trả cho các chủ nợ không thế chấp. Tóm lại thông tin của bài báo FT về những gì sẽ xảy ra trong vụ tranh chấp này không có gì mới, nhưng bài báo này có vài thông tin khác rất đáng chú ý.

Sau khi vụ Vinashin rộ lên cuối năm 2010, tôi nghe nói từ sau Đại hội Đảng đầu năm 2011 báo chí VN đã nhận được chỉ thị không được đăng thêm về tình hình Vinashin bởi vậy không hề có thông tin về vụ tranh chấp này xuất hiện trên báo chí (cho đến hôm nay SGTT đưa tin về vụ kiện). Phe chủ nợ cũng rất kín tiếng không tiết lộ thông tin về các cuộc đàm phán, có thể vì yêu cầu của phía VN hoặc có thể họ cho rằng chưa phải thời điểm tung thông tin ra. Tuy nhiên sau khi Elliott Advisors khởi kiện, FT đã có được thông tin là chính phủ VN đã từng đề nghị hoặc trả cash với giá trị 35% face value cho các chủ nợ, hoặc đổi face value lấy longterm government guaranteed bonds (no interest). Chắc chắn thông tin này do phía chủ nợ leak ra, nhiều khả năng từ Elliott Advisors. Một thông tin quan trọng nữa là trong chương trình debt restructuring cho Vinashin các chủ nợ trong nước sẽ chỉ nhận được 20% face value cho các khoản vay không thế chấp khác. Nghĩa là phía Elliott Advisors và các chủ nợ nước ngoài khác thậm chí còn có lợi hơn phương án kiện ra tòa rồi nhiều khả năng sẽ phải phân chia tài sản của Vinashin theo"pari passu clause". Vậy tại sao Elliott Advisors lại theo đuổi phương án này, chẳng lẽ một hedge fund cáo già như vậy lại không nghĩ đến phương án tôi/FT đặt ra (là Vinashin sẽ nộp đơn phá sản)?

Câu trả lời cho nước cờ này của Elliott Advisors có thể là EA tin rằng chính phủ VN sẽ không để cho Vinashin phá sản trong bất kỳ trường hợp nào, do đó nhiều khả năng VN/Vinashin sẽ chấp nhận out-of-court settlement riêng với EA (thế nên EA đi kiện một mình). Vì đây sẽ là một vụ rất sensitive ở VN nên chắc chắn chính phủ VN sẽ giấu rất kỹ số tiền và phương án settlement (EA cũng không đời nào tiết lộ), do đó EA hi vọng sẽ đàm phán được mức tốt hơn con số 35% đã được offer. Chưa kể nếu EA có "tay trong" bên phía VN hoặc EA nắm được một "bí mật" nào đó mà phía VN không muốn bị leak ra thêm thì leverage của EA sẽ còn cao hơn nữa. Thôi tôi không speculate thêm nữa, bạn nào thích các conspiracy theory thì cứ tiếp tục "sáng tác" :-). Base case scenario của tôi vẫn là Vinashin sẽ nộp đơn xin phá sản ở VN, một tổng công ty mới sẽ ra đời để mua lại (với giá bèo) các tài sản hiện tại của Vinashin. Số tiền thu được sẽ trả cho các chủ nợ, mà theo trình tự thế chấp chắc EA sẽ chẳng nhận được đồng nào hết. Đó là phương án tốt nhất cho taxpayers (i.e. nhân dân) VN.



Update (11/11): Tôi vừa highlight cụm từ quan trọng nhất trong entry bên trên: "out-of-court settlement". Theo tôi đó mới là mục tiêu của EA chứ không phải họ muốn được tòa Anh xử thắng kiện vì nếu vậy họ có thể phải đối mặt với việc Vinashin tuyên bố phá sản và phải xếp hàng sau các chủ nợ có thế chấp khác. Việc khởi kiện chỉ là chiến thuật của EA gây thêm sức ép lên phía VN nhằm đạt được tỷ lệ payout cao hơn 35% đã được offer thôi. Bởi vậy tôi rất thất vọng khi thấy ông Nguyễn Trần Bạt khuyên chính phủ VN đi theo con đường này:

"Con đường đàm phán với công ty cho vay là cách duy nhất để duy trì trạng thái tiền tư pháp này. Đây là cơ hội của Chính phủ, giải quyết tốt thì sẽ chứng minh với cộng đồng tín dụng quốc tế rằng: Chính phủ Việt Nam rất có trách nhiệm, Chính phủ sẽ có điểm cộng thông qua xử lý này trong các yếu tố đánh giá tín nhiệm của nền kinh tế."

Thực ra chính phủ VN/Vinashin đã đàm phán "tiền tư pháp" với các chủ nợ và offer 35% face value. EA một mình đi kiện cho thấy nội bộ các chủ nợ không thống nhất về hướng giải quyết khoản nợ này, rất có thể một vài chủ nợ khác đã chấp nhận phương án 35% nhưng EA không đồng ý. Nếu vậy việc chính phủ "đánh tiếng" rằng sẽ sẵn sàng để Vinashin phá sản không những tạo sức ép cho EA mà còn cho các chủ nợ khác (vì có khă năng họ sẽ không nhận được gì thay vì được 35% đã được offer). Rất có thể các chủ nợ khác sẽ vận động EA hủy bỏ đơn kiện nếu họ thấy cái threat này của VN credible, chưa kể những chủ nợ như Credi Suisse còn có các interest khác ở VN.

Ông Nguyễn Trần Bạt "dọa" rằng vì EA kiện cả 21 công ty con của Vinashin nên sẽ ảnh hưởng ra toàn nền kinh tế. Thực ra theo những gì tôi được biết thì trong hợp đồng cho vay Vinashin có qui định rằng nếu 1 trong số những công ty con này bị chuyển cho một chủ sở hữu khác thì khoản vay ngay lập tức bị coi là default. Đây là cách chủ nợ phòng tránh khả năng Vinashin "tẩu tán" tài sản trước khi phá sản vì họ cho vay không thế chấp nên chỉ có thể dựa vào tài sản hiện hữu để đòi nợ. Vấn đề là EA và các chủ nợ khác gần như không có leverage gì ở điều khoản này vì ngay cả nếu tòa án ở Anh xử EA thắng kiện và Vinashin không được phép bán/chuyển đổi sở hữu các công ty con đó, phán xét này gần như không thể enforce ở VN. Thứ nhất theo luật sư Trần Hữu Huỳnh VN chưa có hiệp định hỗ trợ tư pháp với Anh, nghĩa là phán quyết của các tòa án Anh chưa chắc đã được hệ thống tư pháp của VN enforce. Thứ hai việc chuyển đổi sở hữu một số công ty con của Vinashin diễn ra vào giữa năm 2010, tại sao EA không kiện vào thời điểm đó? Một tòa án ở VN có thể cho rằng vào thời điểm chuyển đổi sở hữu Vinashin và các chủ sở hữu mới (PVN, VNL) đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý (eg công bố trên báo chí, register với authority) và không có ai phản đối/khiếu nại nên vụ chuyển đổi đó là hợp pháp. Tất nhiên EA có thể đưa ra bằng chứng họ đã khiếu nại với Vinashin nhưng như thế không đủ, đúng ra họ phải khiếu nại với một tòa án VN hoặc Anh yêu cầu chấm dứt việc chuyển đổi sở hữu ở thời điểm nói trên.

Rủi ro lớn nhất cho Vinashin như luật sư Fred Burke nêu ra là tòa án Anh sẽ ra lệnh phong tỏa tất cả tài sản của Vinashin ở nước ngoài và Vinashin sẽ rất khó tiếp tục làm ăn bên ngoài VN. Tuy nhiên nếu Vinashin nộp đơn xin phá sản ở một tòa VN thì tất cả những tài sản ở nước ngoài đó sẽ phải được gộp vào phần tài sản còn lại trong nước của VN và trả cho các chủ nợ, theo thứ tự thế chấp thì EA sẽ phải xếp cuối cùng. Tất nhiên quá trình phá sản này sẽ làm gián đoạn những hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của Vinashin, nhưng tòa VN có thể giảm thiểu gián đoạn bằng cách tuyên bố đặt Vinashin vào tình trạng receivership - nghĩa là công ty này vẫn hoạt động bình thường trong khi tòa tìm cách thanh lý tài sản để trả cho các chủ nợ. Trong giai đoạn receivership tất cả tài sản/tài khoản của Vinashin sẽ do tòa tạm thời kiểm soát nên tòa án Anh không thể freeze những tài sản này vì trên danh nghĩa nó không còn thuộc về Vinashin nữa. Ở điểm này việc VN và Anh chưa có hiệp định hỗ trợ tư pháp lại là một điều bất lợi vì tòa án của Anh chưa chắc đã đồng ý chấp nhận phán quyết của tòa VN, tuy nhiên phía VN có thể gây sức ép qua con đường chính phủ. Nhưng chưa cần chính phủ ra tay như vậy chỉ cần một chủ nợ có thế chấp bất kỳ nào đó của Vinashin, trong nước hay ngoài nước, nộp đơn yêu cầu tòa án Anh phải ưu tiên phong tỏa tài sản của Vinashin ở nước ngoài để trả cho mình trước EA thì EA sẽ thua, i.e. EA phải chấp nhận xếp hàng sau chủ nợ đó. Ngoài ra một luật sư giỏi có thể thuyết phục được tòa án Anh rằng vì Vinashin đã nộp đơn phá sản ở VN nên vụ tranh chấp tài sản này phải được chuyển về tòa án VN đang giải quyết phá sản thụ lý vì còn liên quan đến các creditor khác. Tóm lại, rủi ro với các tài sản của Vinashin ở nước ngoài không quá lo ngại, trừ khi Vinashin đang có rất nhiều hợp đồng đóng tầu cho các đối tác nước ngoài và/hoặc có rất nhiều tài sản ở nước ngoài - tôi nghi ngờ điều này.

Trong đoạn tôi trích lời ông Nguyễn Trần Bạt bên trên, điểm mà tôi đồng ý là "đây là cơ hội của Chính phủ". Nhưng khác với ông Bạt, tôi cho rằng đây không phải cơ hội để chính phủ tiếp tục ru ngủ giới đầu tư quốc tề rằng mình vẫn tiếp tục đứng đằng sau những khoản vay của doanh nghiệp (nhà nước) - mà là cơ hội để chính phủ thể hiện rõ với thế giới rằng VN là một nền kinh tế thị trường và tuân thủ nghiêm túc luật lệ quốc tế. Vinashin đứng ra vay rồi làm ăn thua lỗ thì đó là rủi ro kinh doanh, chính phủ không can thiệp vì chính phủ chưa bao giờ bảo lãnh cho khoản vay này, nếu EA và các chủ nợ khác hiểu nhầm letter of comfort là bảo lãnh thì đó là lỗi của họ. Đây cũng là cơ hội để chính phủ chứng minh cho taxpayer của VN rằng tiền thuế của họ không bị sử dụng để bailout các doanh nghiệp (nhà nước) làm ăn không hiệu quả. Trên thực tế nếu EA không kiện và âm thầm cùng các chủ nợ khác chấp nhận 35% đã được offer như FT tiết lộ thì không bao giờ người dân VN biết được một phần tiền thuế của họ đã được trả cho một hedge fund nước ngoài để trả giá cho những sai lầm của các lãnh đạo tham nhũng và yếu kém của Vinashin. Và cuối cùng, đây là cơ hội để chính phủ thực hiện một cuộc cải tổ sâu rộng khu vực kinh tế quốc doanh vốn rất kém hiệu quả và tiềm ẩn nhiều rủi ro - bắt đầu bằng việc để Vinashin phá sản.

[Một điểm nhỏ mà Fred Burke nêu ra là chi phí theo kiện ở một tòa quốc tế sẽ rất tốn kém. Tôi có một phương án "tiết kiệm chi phí" thế này cho chính phủ: trả tự do cho luật sư Lê Công Định với yêu cầu ông phải đại diện cho Vinashin ở tòa án Anh miễn phí, tôi biết luật sư Định đủ trình độ tranh biện ở tòa án này :-)]


Update (14/11): Một người bạn của tôi đặt ra vấn đề là nếu Vinashin (tập đoàn) tuyên bố phá sản thì có thể không sao chứ toàn bộ 21 công ty con của Vinashin phá sản thì chưa biết thế nào. Đây cũng là lời cảnh báo của ông Nguyễn Trần Bạt tôi trích dẫn bên trên. Trước hết cần hiểu hình thức tập đoàn của VN rất giống với holding company theo luật kinh doanh Anh/Mỹ/Úc, nghĩa là công ty mẹ trên thực tế không có hoạt động sản xuất kinh doanh gì cả mà chỉ nắm giữ cổ phần chi phối ở một loạt các công ty con. Lý do của hình thức cấu trúc doanh nghiệp như vậy rất đa dạng, có thể để diversify loại hình kinh doanh nhưng tránh bị over-regulate (vd kinh doanh ngân hàng chịu sự quản lý rất chặt của nhà nước trong khi kinh doanh bất động sản lại có những quản lý hoàn toàn khác), cũng có thể để ngăn ngừa rủi ro từ một mảng kinh doanh này lan sang một mảng kinh doanh khác. Thông thường business/corporate law sẽ phân biệt holding company với các loại hình corporate khác và có những regulation đặc thù, vd qui định về sister company transactions hay consolidated accounting cho công ty mẹ.

Một đặc điểm rất quan trọng của holding company là assets của nó gần như hoàn toàn là financial assets - là cổ phần ở các công ty con. Bởi vậy nếu một holding company đi vay thì khoản vay đó phải được back bởi toàn bộ tài sản của các công ty con. Trong trường hợp Vinashin (tập đoàn) đi vay trước đây tất cả tài sản của 21 công ty con (tình theo % sở hữu của Vinashin) sẽ phải sử dụng để thanh toán nợ nần cho công ty mẹ nến công ty mẹ default. Điều này đã được các chủ nợ ghi rõ trong hợp đồng vay, hoàn toàn phù hợp với thông lệ kinh doanh Anh/Mỹ. Trong đơn EA khởi kiện Vinashin, hedge fund này kiện luôn các công ty con với lý do họ là các guarantors cho khoản vay, điều này cũng bình thường vì tài sản của các công ty này trên thực tế là của holding company Vinashin. Tuy nhiên EA đưa toàn bộ 21 công ty con trước đây của Vinashin vào đơn kiện là không đúng vì một phần trong số đó đã được chuyển giao cho PVN và VNL. Như tôi đã chỉ ra bên trên, ở thời điểm chuyển giao EA đã không có phản đối gì và không yêu cầu tòa án (Anh hoặc VN) đưa ra injunction ngăn ngừa việc chuyển giao này nên theo luật VN thì những công ty con đó đã không còn là tài sản của Vinashin. Đây là điểm làm đơn kiện của EA suy yếu rất nhiều.

Nhưng quan trọng hơn, chính việc EA khởi kiện cả 21 công ty con đã gián tiếp đặt những công ty này vào tình trạng default và thậm chí bankrupt. Giả sử một trong các chủ nợ khác của một trong các công ty con đó có điều khoản cross default trong hợp đồng cho vay thì khi con nợ bị kiện ra tòa gần như chắc chắn hợp đồng vay khác đó sẽ ngay lập tức đặt công ty con đó vào tình trạng default. Tệ hơn, trên nguyên tắc cả 21 công ty con của Vinashin đều phải có trách nhiệm trả khoản nợ $600m cho công ty mẹ nên nếu owner equity của họ không đủ để cover con số đó, họ nghiễm nhiên lâm vào tình trạng bankrupt. Điều đó có nghĩa là khi Vinashin tuyên bố phá sản thì tự động những công ty con còn lại của holding company này cũng lâm vào tình trạng phá sản. Đây là điều anh bạn tôi và ông Nguyễn Trần Bạt lo ngại sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế. Tuy nhiên như tôi đã chỉ ra bên trên, vấn đề nằm ở chỗ Vinashin và các công ty con khi tuyên bố/bị buộc phá sản thì tòa án VN sẽ xử lý theo hướng nào. Nếu tòa quyết định liquidate toàn bộ những công ty này thì hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị đình trệ. Ngược lại nếu tòa quyết định đặt những công ty đó vào tình trạng receivership và bán các công ty đó một cách trật tự cho một bên thứ ba thì ảnh hưởng nếu có cũng không lớn. Chính vì vậy ở các nước Anh/Mỹ nhiều công ty khi bị các chủ nợ ráo riết đòi nợ (eg kiện ra tòa như trường hợp EA) thì họ có thể "file for protection" theo luật bankruptcy để có thời gian xoay xở trả nợ (eg đàm phán haircut với chủ nợ) mà không bị ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Quyết đinh có cho protection hay liquidate do tòa án quyết định chứ các chủ nợ không có quyền gì.

Tóm lại trong trường hợp Vinashin câu hỏi không phải là liệu VN có dám cho Vinashin và các công ty con cùng đồng loạt phá sản hay không mà là nếu Vinashin tuyên bố phá sản thì tòa VN có áp dụng được luật phá sản của mình để đặt Vinashin và các công ty con vào tình trạng receivership hay không? Tôi nghĩ đây chỉ đơn thuần là technical issue, VN hoàn toàn có thể chủ động xử lý được. Có bạn có thể nói luật VN khác/chưa qui định về hình thức receivership. Well, if you have will there is way!


Update (18/11): TBKTSG vừa có một bài lặp lại quan điểm cho rằng không thể cho phá sản cả 21 công ty con (đã từng) của Vinashin cùng một lúc. Tôi vẫn cho rằng đây là một lo ngại thiếu căn cứ và chỉ có lợi cho EA. Thứ nhất, như tôi đã chỉ ra bên trên, đơn kiện bao gồm cả 21 công ty con rất có thể sẽ bị tòa án Anh bác bỏ nếu một trong những công ty đó chứng minh trước tòa rằng họ không còn thuộc sở hữu của Vinashin. Liệu một tòa án của Anh có thể nullify quyết định của Thủ tướng VN chuyển giao một số công ty con của Vinashin cho PVN và VNL từ giữa năm 2010 hay không? Các luật sư của Vinashin có thể biện hộ rằng EA và các creditors khác đã không có ý kiến gì và không có hành động nào để ngăn ngừa việc chuyển giao đó, do vậy họ đã ngầm chấp nhận tính hợp pháp của việc chuyển giao. Theo tôi chỉ riêng phần tranh tụng này có thể kéo dài hàng tháng, thậm chí cả năm nên Vinashin và 21 bị đơn kia sẽ có đủ thời gian sắp xếp lại các hợp đồng với các đối tác nước ngoài và lên phương án đối phó.

Thứ hai, cứ giả sử trường hợp xấu nhất là tòa án Anh vẫn chấp nhận đơn kiện Vinashin và 21 công ty con đồng thời không công nhận quyết định chuyển giao một số công ty con cho PVN và VNL. Liệu Vinashin và 21 công ty kia đồng loạt phá sản theo nghĩa file for protection ở một tòa án VN có phải là tai họa cho nền kinh tế VN hay không? Nhớ lại đầu năm 2009 sau nhiều nỗ lực bailout của chính phủ Mỹ không thành, General Motors - một trong những "tượng đài" của ngành công nghiệp Mỹ đã phải file for protection và rồi chỉ hơn một năm sau GM đã phục hồi trở lại. Như tôi đã viết bên trên, rất có thể dịp này là một cơ hội tốt cho chính phủ VN tái cơ cấu lại ngành công nghiệp đóng tàu VN vốn đang rất yếu kém. Nếu sau khi file for protection, tòa án VN mạnh dạn thuê một đội ngũ chuyên gia nước ngoài tiếp quản tái cấu trúc Vinashin và các công ty con thì có thể uy tín của VN sẽ tăng lên chứ không phải tệ đi như nhiều người lo ngại. Về lâu dài một cuộc thay máu như vậy sẽ chỉ có lợi cho nền kinh tế, có lợi cho chính phủ và taxpayer VN.

Phương án lập một công ty để mua lại nợ của Vinashin từ các creditors nước ngoài mà TBKTSG đề suất  có một số điểm dở như sau, kể cả nếu công ty đó hoàn toàn dùng vốn tư nhân. Một điều hiển nhiên là EA sẽ không chấp nhận bán nợ với giá thấp hơn 35% face value vì đã được offer giá đó. Trong khi đó nếu thông tin của FT chính xác, số nợ của Vinashin với các creditors trong nước chỉ được offer 20% face value, nghĩa là công ty mua nợ mới này sẽ phải trả ít nhất 15% đắt hơn cho EA và các creditor nước ngoài cho cùng một loại liability của Vinashin mà họ có thể mua được trong nước. Liệu một doanh nghiệp tư nhân hoạt động vì lợi nhuận có sẵn sàng chấp nhận một deal bất lợi như vậy hay không để cứu Vinashin? Tôi cho rằng không, công ty này sẽ phải có tiền của nhà nước - nếu không phải cash thì cũng là những concession cho những đại gia sẽ bỏ tiền vào đó để cứu Vinashin. Quan trọng hơn, nếu Vinashin và 21 công ty con file for protection và các chủ nợ buộc phải restructure lại các khoản nợ thì nền kinh tế không bị mất đi một số vốn tổi thiểu bằng 35% face value của khoản nợ đó ($210m). Liệu lợi ích của việc giữ không để Vinashin và 21 công ty kia không phá sản có cái giá bằng con số này hay không? Nếu Vinashin file for protection thậm chí các "white knights" trong nước đó có thể sử dụng số tiền đáng ra phải trả cho các chủ nợ nước ngoài này để giúp Vinashin mới phục hồi, điều này sẽ có lợi cho tất cả các stakeholders và cho nền kinh tế nói chung. Cuối cùng việc nhà nước đứng ra giàn xếp lập ra một công ty mua nợ như vậy sẽ tiếp tục tạo ra tiền lệ và moral hazard cho những khoản vay nước ngoài khác, các DNNN khác, đánh mất đi cơ hội cải tổ triệt để hệ thống doanh nghiệp đang hoạt động kém hiệu quả này.

Nếu phương án cho Vinashin và 21 công ty con kia phá sản và thay máu hoàn toàn này được thực hiện, biết đâu sau này VN sẽ cám ơn EA đã khởi kiện vì đó là "the last straw" để chính phủ kiên quyết cải tổ  nền kinh tế :-)


Update (21/11): Trong khi hầu hết báo chí VN đều tường thuật Vinashin và 21 công ty con bị một hedge fund của Hà lan tên là Elliott VIN (Netherland) BV kiện, bài báo FT tôi link bên trên nói công ty khởi kiện là Elliott Advisors, một hedge fund có trụ sở ở London. Tôi đoán báo chí VN lấy thông tin từ bài báo này của BBC Vietnamese, nhưng bản thân bài báo đó cũng không thống nhất. Đoan trên thì nói công ty khởi kiện là Elliott VIN, đoạn dưới lại nói Elliott Advisors. BBC cho biết họ liên hệ với một nhân viên của Tòa Thương mại, nhánh Queen's Bench (là một trong 3 nhánh - chứ không phải chi nhánh như BBC dịch nhầm - của tòa Thượng thẩm - High Court). BBC nói họ chỉ được đọc bản tóm tắt đơn kiện vì nội dung kiện hiện được giữ bí mật cho đến khi nào các bị đơn xác nhận đơn kiện. Thông tin duy nhất BBC xem được từ bản tóm tắt đơn kiện số 11-1296 là Elliott VIN (Netherland) BV kiện một danh sách 22 công ty với Vinashin đứng đầu. Đơn kiện được ghi nhận vào ngày 1/11/2011.

BBC cho rằng đơn kiện này liên quan đến vụ tranh chấp khoản nợ $600m của Vinashin dựa vào bài báo FT link bên trên đăng ngày 17/10/2011. Bản thân FT lấy thông tin từ debtwire.com, một dịch vụ chuyên cung cấp thông tin về nợ quốc tế. Nguồn tin của debtwire.com lại từ 3 creditors khác và một nhân vật nào đó ở Hà nội có quan hệ mật thiết với Vinashin và họ chỉ nhắc đến Elliott Advisors (EA) chứ không hề biết đến Elliott VIN (EV). Chuyện các hedge fund incorporate nhiều công ty con ở các jurisdiction khác nhau khá phổ biến, nhưng thường là ở các tax havens như British Virgin Island, Bermuda, Cayman Island... Việc EA incorporate một công ty con ở Hà lan có thể là phần loan cho Vinashin do EA sở hữu đã được chuyển giao cho một/vài investor ở Hà lan. Nếu vậy nhiều khả năng EA đã chấp nhận lỗ một phần để unload số asset này cho một bên thứ ba (EV) và rút lui khỏi vụ kinh doanh phức tạp này. Một khả năng nữa là bản thân EA, theo thông tin ở đây, được cấu trúc theo dạng một hedge fund sponsor - nghĩa là họ và investors cùng bỏ tiền vào một fund theo dạng partnership rồi EA đứng ra quản lý. EV có thể là một special fund do EA lập ra với một số investor Hà lan và EV là công ty đã nắm khoản nợ của Vinashin từ đầu nhưng báo chí chỉ report nhầm thành EA.

Những nghi vấn trên đây của tôi có thể được giải đáp dễ dàng nếu ai đó liên hệ hỏi Vinashin, tên của chủ nợ chắc không phải là thông tin bí mật hay nhậy cảm gì ở thời điểm này. Thông tin nhậy cảm hơn, hi vọng có bạn phóng viên nào kiếm được :-), là nội dung của đơn kiện và hợp đồng vay. Rất có khả năng đơn kiện này sẽ force Vinashin phá sản chứ chẳng cần phải đợi đến khi công ty này nộp đơn xin phá sản như tôi gợi ý bên trên. Nếu vậy chính phủ và các cơ quan tư pháp của VN nên chuẩn bị các phương án phá sản cho Vinashin (và có thể cả các công ty con) ngay từ lúc này.


Update (12/12): Theo WSJ thì tổng số tiền EA kiện, bao gồm cả vốn, lãi và phạt, chỉ là $13.2m trong tổng số $600m. Có lẽ số tiền nhỏ nên EA hi vọng VNS sẽ âm thầm settle ngoài tòa để tránh bị kiện tụng, EA không cho các chủ nợ khác cùng kiện có thể cũng vì lý do này. Tiếc là bài báo của WSJ không có thêm thông tin gì mới.

Update (13/12): Thanh Niên có một bài báo tựa rất kêu "Tái cơ cấu nợ của Vinashin" nhưng nội dung hầu như không có thông tin gì. Có điều lỗi không phải ở phóng viên mà là ở nguồn tin. Còn bài này cho biết EA đã từng thắng một vụ kiện tương tự với Peru và đang theo đuổi một vụ kiện khác với Argentina.



Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Price vs Value


"What is a cynic? A man who knows the price of everything and the value of nothing." - Oscar Wilde


0.
Hàng nghìn năm qua các nhà hiền triết, trí giả Đông-Tây đã không ngừng thắc mắc và đi tìm lời giải cho khái niệm "value", dù là thứ value trừu tượng như trong câu nói nổi tiếng bên trên của Oscar Wilde hay chỉ đơn giản là khái niệm value trần tục của một cây bút chì nhỏ bé. Cũng trong hàng nghìn năm  đó, triệu triệu thứ dân, con buôn, thợ thuyền băn khoăn về "price" của một ổ bánh mì hay một mảnh vải mà họ mua bán hàng ngày, chẳng hề biết hoặc quan tâm "value" của chúng là gì. Họ, những tiện dân nhỏ bé và có phần cynic đó, trong gần suốt chiều dài lịch sử bị cho là những con kiến sống theo bản năng - bản năng mặc cả đến từng xu, tiết kiệm từng đồng, bản năng mua gian bán lận, đầu cơ tích trữ. Không ít lần trong lịch sử, một thiểu số có authority trong tay - có thể là một ông tộc trưởng, một ông vua, ông giáo hoàng, hay ông tổng bí thư - áp đặt những value mà họ cho là đúng lên đàn kiến đó. Mỗi triều đại, mỗi học thuyết trôi qua thường đem theo khái niệm "value" của họ đi vào quá khứ, nhưng "price" của những hàng hóa luân chuyển tự do trên thị trường vẫn tuân theo qui luật "thuận mua vừa bán" ngay cả trong những ngày tháng mông muội ngăn sông cấm chợ hay trong đỉnh điểm của cơn sốt vàng, sốt hoa tulip.



1.
Ở cuối thời kỳ đồ đá một người đàn ông nguyên thủy chắc chắn đã biết một con dao bằng đồng có giá trị hơn nhiều một mũi giáo bằng đá mà cha ông anh ta sở hữu. Một đổi một giữa dao đồng và giáo đá chắc chắn không phải là "thuận mua vừa bán" cho dù anh ta có thể còn chưa biết đếm phải mất bao nhiêu ngày mới rèn được một con dao như vậy và cũng chẳng có sổ sách gì để ghi lại bao nhiêu đồng, bao nhiêu củi lửa đã tiêu tốn. Đã có những bằng chứng khảo cổ học và nhân chủng học (anthopology) cho thấy trao đổi hàng hóa trong những năm tháng sơ khai đó dù chỉ dựa vào goodwill của các bên cũng đã có những tính toán thiệt hơn. Nghĩa là trong những cuộc trao đổi hàng hóa đó người nguyên thủy đã bắt đầu có khái niệm "fair value" đối nghịch với "exchange value" (cách nói khác của price), và đã cảm thấy "unfair" nếu exchange value không phản ánh đúng fair value mà họ cảm nhận.

Nhưng lịch sử có không ít những giai đoạn đầy bạo lực, cưỡng ép, lọc lừa nên ước mong quân bình hai khái niệm value này không dễ thực hiện, thông thường bên yếu thế hơn sẽ bị thiệt trong những cuộc trao đổi không hoàn toàn "thuận mua vừa bán". Tất nhiên số đông yếu thế đó luôn mong ước về một xã hội có justice, fairness và những khái niệm này dần dần đã được các nhà hiền triết cổ đại như Socrates, Plato, Aristotle định hình rõ ràng hơn trong hệ thống triết học của họ. Với quá trình tiến hóa như vậy không có gì ngạc nhiên khi Aristotle cho rằng value của một vật phải là "value of use" (VoU), nghĩa là mức độ hữu dụng của nó trong con mắt của người chủ sở hữu. Một ngọn giáo có thể có value gần như bằng không với một anh nông dân, ngược lại một người thợ săn sẽ chẳng đổi một con thú nhỏ lấy một cái cầy. Value (of use) từ Aristotle trở về trước do demand - hay phía thụ hưởng - quyết định. Sẽ chẳng có labour content hay marginal cost nào trong một cục đá tình cờ có cạnh sắc mà người nguyên thủy chợt nhận ra nó có thể giúp họ chặt cây dễ dàng hơn.

Tất nhiên lịch sử không dừng lại ở đó và khái niệm value cũng vậy. Cùng với sự phân công lao động, chuyên môn hóa và trao đổi hàng hóa, một nhóm người không ngừng tích trữ của cải, quyền lực, trí thức và để lại đại bộ phận nhân loại ở lại phía sau tiếp tục lam lũ kiếm ăn, gò lưng đóng thuế, trả nợ. Với những mối liên hệ kinh tế xã hội ngày càng phức tạp và trọng tâm quyền lực dịch chuyển dần về phía các điền chủ, thương gia, nhà tư bản, khái niệm value cũng dịch chuyển dần sang phía supply. Hai thiên niên kỷ sau Aristotle, Adam Smith đã khẳng định rằng "real price" - tương đương với value - của một vật phải phản ánh "toil and trouble" mà người làm ra nó bỏ ra.  Nghĩa là value từ một khái niệm subjective theo Aristotle đã trở thành objective theo Smith, value tồn tại bên ngoài ý thức của con người - một quan điểm rất "duy vật biện chứng". Tuy nhiên Adam Smith không từ bỏ hẳn demand side, ông vẫn cho rằng value của một vật tuy đo bằng "labor-value" để làm ra nó nhưng bản thân vật thể đó được làm ra chỉ khi nó "desirable" với con người.

Trong một thế kỷ sau Adam Smith, David Ricardo rồi Karl Marx tiếp tục phát triển phát triển khái niệm value này thành một lý thuyết đồ sộ (Labor Theory of Value). Rồi chỉ một ý tưởng nhỏ của nó (surplus value) đã giúp vài lãnh tụ cách mạng trong thế kỷ 20 kéo theo những đàn kiến bình dân đấu tranh lật đổ nhiều trật tự xã hội để lập lại "justice", i.e. xóa bỏ bóc lột với ý nghĩa phân bổ lại phần surplus value trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên sẽ rất bất công cho LTV khi nhiều người nhìn nó qua lăng kính của Lenin, hoặc tệ hơn lăng kính của Stalin/Mao, mà không nhận thấy đó là một cố gắng của nhiều thế hệ học giả nhằm hệ thống hóa khái niệm value một cách khoa học, nhu cầu tri thức tất yếu trong xu hướng phát triển nhận thức từ subjectivism sang objectivism trong thế kỷ 18-19. Nhưng dù hiểu theo cách của Aristotle, Adam Smith, hay Karl Marx, value cho đến thời điểm đó vẫn là một khái niệm trừu tượng xoay quanh ước mong justice/fairness, hay khía cạnh đạo đức của một cơ chế tổ chức xã hội. Những nhà tư tưởng đó hiểu rằng trên thực tế price, hay exchange value, có thể khác rất xa fair value vì những qui ước, định chế, hay thậm các chí ngẫu nhiên lịch sử.



2.
Trong lý thuyết tài chính có 2 cách đánh giá giá trị cổ phiếu (equity valuation) khá phổ biến. Cách thứ nhất sử dụng discounted cashflow model (DCF), cách thứ hai là book value multiple (BVM). Với DCF giá trị của một cổ phiếu là tổng của những lợi ích trong tương lai mà nó đem lại cho chủ sở hữu, trong khi BVM đánh giá giá trị dựa vào những gì đã được tích tụ và ghi nhận trên sổ sách của một công ty. Có thể thấy đằng sau DCF là ý tưởng VoU của Aristotle còn BVM có hơi hướng LVT của Smith/Marx, một đằng nhìn về những lợi ích trong tương lai, một đằng tổng kết lại những gì đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng khác với các triết gia và các kinh tế gia vẫn đang bất đồng về cách tính value đúng nhất, giới tài chính chẳng bao giờ cãi nhau phương pháp nào là đúng cả, với họ "mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột".

Có điều để "bắt được chuột" thì những người dùng DCF hay BVM phải ngầm định một nguyên lý bất di bất dịch từ thời Aristotle cho đến Adam Smith: price của một asset có khuynh hướng mean-reverting xung quanh "fair value". Nghĩa là dù cổ phiếu được định giá bằng DCF hay BVM nhà đầu tư sẽ "sell" nếu price lớn hơn value và "buy" trong trường hợp ngược lại. Tuy nhiên lực đẩy nào làm price phải quay về với value? Aristotle không có câu trả lời thỏa đáng chỉ viện dẫn ethics hay justice ra để hi vọng những người tin vào tư tưởng của mình sẽ không quá tham khi bán một vật với giá cao hơn value của nó, hoặc ngược lại không mua với giá thấp hơn value. Adam Smith, nhìn nhận bản chất "tham lam" của con người, tiến thêm một bước khi viện dẫn invisible hands sẽ đẩy price về gần với value. Chính khái niệm invisible hand này, ngầm định sự tương tác giữa demand và supply, đã đưa Smith vào vị trí ông tổ của kinh tế học hiện đại. Karl Marx có lẽ bi quan hơn cho rằng hệ thống quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản sẽ không bao giờ quân bình price với value, do đó sẽ cần phải thay đổi hệ thống này bằng bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản. Sau khi lật đổ giai cấp tư bản thống trị, Marx cho rằng hệ thống giá cả trong nền kinh tế sẽ được qui định bởi một central planner, là người/cơ quan tính toán value của tất cả các loại hàng hóa dịch vụ theo LVT của ông. Liên xô và các nước XHCN sau này đã có một cơ quan như vậy.

Những người có kinh nghiệm làm valuation biết rõ DCF và BVM thường cho kết quả khác nhau rất xa, ngay cả khi dùng một mô hình nhưng với các giả định khác nhau (growth rate, discount rate, multiple...) cũng sẽ ra các "fair value" khác nhau. [Tất nhiên mỗi nhà đầu tư phải có fair value của riêng mình chứ không thì làm sao có người mua và người bán]. Điều này cho thấy dù khái niệm value có thể hoàn toàn objective về mặt lý thuyết như mong muốn của Marx, trên thực tế không bao giờ có thể xác định được value của một vật mà không bị ảnh hưởng bởi subjective judgement. Điều này cũng phù hợp với tính chất subjective của khái niệm justice hay fairness, nghĩa là nếu hai người khác nhau có quan điểm về justice khác nhau thì rõ ràng họ phải có fair value của một vật khác nhau. Ở một khía cạnh khác, việc áp đặt value system của mình cho người khác là một hành động unjust/unfair trái ngược với mong muốn justice ban đầu (e.g. quân bình giá với value). Nhưng ngay cả nếu bỏ qua những mâu thuẫn này, liệu justice/fairness có nhất thiết là điều kiện tiên quyết để định hình một hệ thống giá cả không?



3.
Trên tiêu đề các văn bản hành chính của VN có dòng chữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Khẩu hiệu này phản ánh nguyện vọng của dân tộc VN được chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, có lẽ đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều dân tộc khác cũng thể hiện tâm nguyện của mình qua một hình thức tripartite motto như vậy: "Liberté, Égalité, Fraternité" của Cách mạng Pháp, "Life, liberty, and the pursuit of happiness" của Thomas Jefferson, hay "Peace, Land, and Bread" của Lenin. Có thể thấy nguyện vọng của đa số nhân loại luôn đặt justice lên hàng đầu nhưng không phải là duy nhất. Bên cạnh justice con người luôn có mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn cả về tinh thần lẫn vật chất. Cái mong muốn vật chất đó đã được Amartya Sen, một nhà học giả lớn của thế kỷ 20, đưa vào khái niệm "freedom of choice" như là mục tiêu căn bản của quá trình phát triển kinh tế cho bất kỳ một dân tộc nào. Theo Sen, con người không chỉ cần freedom theo nghĩa chính trị mà họ phải đạt được freedom trong tất cả những nhu cầu kinh tế của mình. Freedom, hiểu theo nghĩa vượt ra ngoài phạm vi justice này, thực ra đã được Marx đề cập đến từ thế kỷ 19 dù bị phê phán là Utopian. Trong khi Sen trông chờ vào economic development thông qua invisible hand của Adam Smith để đạt đến freedom of choice, Marx chỉ tin rằng một central planner mới có thể phân bổ lại surplus value để thúc đẩy kinh tế phát triển. Cho dù theo quan điểm của Sen/Smith hay Marx, phân bổ hợp lý nguồn lực nền kinh tế để có tăng trưởng lâu dài là điều kiện tiên quyết cho (economic) freedom of choice.

Như vậy bên cạnh nhu cầu justice, một hệ thống giá cả hợp lý - theo nghĩa phản ánh fair value - có thể còn cần thiết cho nhu cầu phát triển thông qua "optimum allocation of resources". Với Marx, hai mục tiêu này tương đồng vì một (socialist) central planner chỉ cần "set price" theo đúng LTV là tự khắc cả justice lẫn (resource allocation) efficiency sẽ đạt được. Adam Smith cũng tin tưởng cả hai mục tiêu này có thể đạt được đồng thời thông qua invisible hand mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước hay một central power nào khác. Tuy nhiên một trong những tín đồ của invisible hand, Vilfredo Pareto, không đồng ý với Smith khi nhận thấy 80% đất canh tác của Italy đầu thế kỷ 20 chỉ do 20% dân số nước này kiểm soát - một outcome có thể nói rất unjust với nhiều người dù có thể efficient. Justice xét cho cùng phụ thuộc vào quan điểm và ý thức hệ của từng cá nhân, bởi vậy một quá trình resource allocation để đạt được efficiency có thể just với người này nhưng sẽ là unjust với người khác. Khái niệm Pareto efficiency trong kinh tế học sau này là một thừa nhận của trường phái invisible hand rằng hai mục tiêu justice và efficiency không phải lúc nào cũng tương đồng. Invisible hand hay free market nếu có đạt được efficiency vẫn có lúc cần phải có một hệ thống income redistribution để đảm bảo justice ở một mức độ nào đó cho toàn xã hội.

Nhưng (economic) freedom of choice không chỉ dừng ở efficiency, ngay trong thế kỷ 19 một học giả nổi tiếng khác là Thomas Malthus đã đưa ra một khái niệm được biết đến trong thế kỷ 21 với cái tên "sustainability". Malthus khá bi quan vào invisible hand khi cho rằng dù efficiency có đạt được, natural resource của trái đất không thể đáp ứng đủ lòng tham vô đáy của con người. Đến một lúc nào đó free market sẽ phải nhờ đến chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh để giải quyết vấn đề sustainability này. Bất chấp những nỗ lực của các nhà chính trị, kinh tế cố gắng đưa ra các giải pháp như Kyoto Protocol hay carbon tax, nhiều doomsayer vẫn cho rằng supply/demand sẽ không thể giải quyết được những nguy cơ quá tải dạng Malthus và văn minh nhân loại có nguy cơ bị xóa sổ. Chưa cần biết "the truth" có thực sự "inconvenient" như vậy hay không, những người như Thomas Malthus hay Al Gore đã chỉ ra rất chính xác một thách thức quan trọng khác cho một hệ thống kinh tế bên cạnh hai mục tiêu justice và efficiency. Liệu một hệ thống fair value với mỗi loại hàng hóa được xác định bằng "oil unit" hay "carbon unit" thay vì "labour unit" như LTV của Smith/Marx có giải quyết được thách thức này hay không?



(Còn tiếp)



Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Guest post



Dưới đây là bài viết của bác Kaufmann, một commenter rất active trong thời gian gần đây trên blog này, về việc tính giá trị của một cây bút chì theo lý thuyết LTV của Marx. Bác Kaufmann viết bài này để trả lời cho câu hỏi của tôi đặt ra trong entry I, pencil: "...giả sử labor value theory của Marx đúng, liệu trên thực tế có cách nào khả thi tính ra được "labor content" của một cái bút chì không?". Tôi sẽ có ý kiến phản hồi riêng về bài viết này trong thời gian tới (nhưng phải finish cái entry về Price vs value đã :)), trước mắt để "rộng đường dư luận" mời các bác tham khảo và thảo luận ý kiến riêng của bác Kaufmann. Rất mong các bác comment trên tinh thần học hỏi và xây dựng dù không cùng quan điểm.




How to calculate crystallized labor in a pencil? 

Trong tác phẩm Tư bản Marx có nhận xét rằng các khó khăn và sai lầm mà nhiều nhà kinh tế vấp phải khi nghiên cứu vấn đề giá trị hàng hóa đều xuất phát từ chỗ họ xem xét hàng hóa và giá trị trong cái hình thái phát triển hoàn chỉnh của chúng (ví dụ như bập ngay vào vấn đề giá cổ phiếu, đất đai), trong khi lẽ ra phải lần ngược trở lại lịch sử hình thành quan hệ trao đổi, để xuất phát từ điểm đầu tiên của quá trình đó.

Nhiều người bị ấn tượng rất mạnh từ bài I, pencil, và nghĩ ngay rằng không thể nào tính được lượng lao động kết tinh trong một chiếc bút chì, chính là đã rơi vào tình trạng nói trên. Cảm giác của họ rất giống với cảm giác một người bạn của tôi khi lần đầu tiên đi thăm nhà máy nơi tôi làm việc. Đó là một nhà máy rất hiện đại, với hệ thống đường ống, thiết bị hết sức phức tạp. Anh bạn kia choáng quá thốt lên:”Không hiểu làm sao mà đầu óc con người có thể thiết kế nên một hệ thống phức tạp nhường này được nhỉ!”
Tôi giải thích với anh ta rằng làm gì có ai tài giỏi đến độ một phát nghĩ ngay ra toàn bộ hệ thống hầm bà lằng này được kia chứ. Đây là kết quả của một quá trình lâu dài hàng trăm năm, từ những thiết kế kỹ thuật thô sơ đầu tiên, rồi cứ sau mỗi thế hệ kỹ sư thì hệ thống lại được bổ sung thêm, để rồi có được cái hình hài như hôm nay cậu thấy.


Vấn đề chiếc bút chì cũng vậy. Cần lần ngược trở lại lịch sử hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa để hiểu được vấn đề từ gốc rễ.


Con người ta sản xuất để tồn tại đã hàng triệu năm nay. Nhưng chỉ cách đây vài ngàn năm, khi lượng sản phẩm làm ra bắt đầu vượt quá nhu cầu sử dụng, thì mới xuất hiện việc trao đổi sản phẩm dư thừa giữa những người sản xuất với nhau. Hiện tượng này hiện nay vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, ví dụ ở các dân tộc thiểu số vùng cao nước ta.


Ở giai đoạn này quan hệ trao đổi còn hết sức thô sơ. Người sản xuất chưa có khái niệm rõ rệt về “giá trị” hay “giá trị trao đổi” của các sản phẩm. Họ chỉ biết đến giá trị sử dụng của từng sản phẩm, và trao đổi cho nhau một cách rất tùy hứng, chả theo nguyên tắc nào cả. Ai đó mang nải chuối ra chợ, thấy người khác có cái tẩu thuốc hay hay, thế là đổi cho nhau, cả hai cùng vui vẻ, rủ nhau vào quán làm một chầu rượu thịt say túy lúy rồi ai về nhà nấy. Họ trao đổi cho nhau theo đúng cái cách mà lý thuyết marginal utility mô tả: dựa trên cảm nhận chủ quan của từng người về tính hữu dụng của sản phẩm đối với mình. Ta có thể quan sát thấy  cách trao đổi này cả ở đám trẻ con nữa. Lũ tí nhau này chả biết qué gì về giá tiền của từng món đồ, chúng thấy thích thì đổi bằng được, thấy chán thì cho; cái đầu tiên thì thích nhiều, cái thứ 5 thứ 6 thì thích ít. Tóm lại, cái mà marginalism mô tả chính là  cách thức trao đổi ở những nơi quá trình trao đổi mới hình thành ở mức sơ khai.


Khi nền sản xuất càng phát triển, lượng sản phẩm dư thừa càng nhiều, thì việc trao đổi diễn ra càng thường xuyên hơn, chứ không còn mang tính ngẫu nhiên năm thì mười họa như lúc trước. Con người ta cũng bắt đầu có ý thức về việc trao đổi sao cho có lợi nhất, hoặc chí ít là không thiệt thòi. Vậy thì họ dựa trên cái gì để quy định tỷ lệ trao đổi giữa các sản phẩm?


Trong chương 1 nói về Hàng hóa và tiền tệ của quyển 1 bộ Tư bản Marx có nhắc tới Aristoteles, rằng Aristoteles đã nhận xét là mỗi hàng hóa đều có hai loại giá trị: 1) Giá trị sử dụng, tức là khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; và 2) Giá trị trao đổi: 5 đôi giày đổi được 1 chiếc bình gốm. Marx cũng chỉ ra, vì sao Aristoteles nhận thấy điều đó, nhưng không giải thích được giá trị trao đổi được hình thành như thế nào.


Tiếp đó, Marx nhắc lại lời của Benjamin Franklin rằng “người ta trao đổi sản phẩm cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động cho nhau, vì thế xác định giá trị trao đổi dựa trên lao động hao phí là xác đáng”. Nhiều nhà kinh tế học khác thời đó cũng có nhận định tương tự.


Có lẽ thấy nhiều chú chả hiểu qué gì về vấn đề giá trị mà cứ nói linh tinh nên Engels đã viết hẳn một phần Bổ sung để giải thích về lý thuyết giá trị, ở cuối quyển III bộ Tư bản, với ngôn ngữ tương đối dễ hiểu. Engels viết, chả có người nông dân hay thợ thủ công nào lại ngu ngốc đến độ đem một sản phẩm mà mình mất 10 tiếng đồng hồ mới làm xong đổi lấy một sản phẩm làm mất có 1 tiếng đồng hồ. Vì ngày xưa (và cả hiện nay ở nhiều nơi) người ta sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp, nên mỗi người đều biết rất rõ mỗi sản phẩm cần mất bao nhiêu công sức mới làm ra. Ngay cả đến khi sản xuất đi vào chuyên môn hóa, ví dụ có những người chuyên đóng giày, thì công việc của họ diễn ra hàng ngày ngay trước mắt mọi người trong làng, và ai ai cũng biết công sức bỏ ra để làm một đôi giày là bao nhiêu. Từ đó mà tỷ lệ trao đổi giữa các sản phẩm được hình thành và củng cố theo thời gian một cách vững chắc. Nền sản xuất càng chuyển sang sản xuất hàng hóa, tức là mỗi người không tự mình làm hết mọi thứ, mà chỉ tập trung sản xuất một số sản phẩm nhất định để trao đổi với những người khác, quá trình sản xuất và trao đổi càng diễn ra thường xuyên, thì quan hệ trao đổi nói trên càng được củng cố. Lúc này đừng có mơ lừa trẻ con hay người dân tộc thiểu số nữa nhá!


Bây giờ chúng ta đi sâu vào việc xác định lượng lao động chi phí cho một sản phẩm như thế nào. Ở giai đoạn đầu, mỗi gia đình đều có một số dụng cụ sản xuất, và do các dụng cụ này tương đối đơn giản nên họ chưa chú ý nhiều đến khái niệm “khấu hao”. Thạch Sanh chỉ quan tâm đốn một gánh củi hết bao nhiêu thời gian, công sức, và đổi được bao nhiêu gạo, chứ chưa tính chi li khấu hao chiếc rìu là bao nhiêu cho mỗi gánh củi. Tương tự, người trồng lúa không tính chi li khấu hao chiếc cày. Bởi vì ai cũng làm thế nên trên thực tế không ai thiệt thòi cả.


Nếu một người thợ mộc đóng cái bàn, anh ta sẽ tính thế này: công lên rừng đốn gỗ mất một ngày, công cưa đục mất hai ngày, làm ra một chiếc bàn, hoặc 4 chiếc ghế. Vậy mỗi chiếc bàn đáng giá 3 ngày công, mỗi chiếc ghế đáng giá ¾ ngày công. Cứ thế mà đem đi trao đổi. Ngay cả khi người khác không biết chính xác chi phí lao động cho bàn ghế là bao nhiêu thì do cạnh tranh giữa nhiều người thợ mộc nên anh ta không thể bịp người khác về chi phí lao động được, mà phải trao đổi đúng giá.
Nếu anh thợ mộc lười lên rừng đốn gỗ, anh ta sẽ “mua” lại gỗ của tiều phu, rồi tính chi phí đó vào chi phí làm ra cái bàn. Đâu vẫn vào đó.


Một người thợ khảm mua cái bàn của anh thợ mộc, và khảm trai vào đó. Anh ta lại lấy 3 ngày công kia cộng với công khảm trai của mình, thành 4 ngày công, và đem đi bán.


Cứ như thế, qua mỗi công đoạn thì chi phí lao động của sản phẩm lại tăng lên một ít. Người sản xuất sau không cần biết chi tiết từng khoản chi phí lúc trước; anh ta chỉ cần biết khoản chi phí tổng cộng cho cái sản phẩm mà anh ta mua để làm nguyên liệu đầu vào. Đây chính là lối hạch toán theo kiểu “lũy kế” mà ai cũng biết. Ví dụ, mỗi nhân viên kế toán đều có thể nói ngay lời hay lỗ lũy kế của công ty tính đến ngày hôm nay là bao nhiêu, bằng cách lấy lời hay lỗ của cuối ngày hôm trước cộng với lời hay lỗ của ngày hôm nay là ra. Không ai điên gì mỗi lần tính toán lại đi lục tung chứng từ của công ty từ ngày mới thành lập tới nay cả.


Chi phí lao động cho chiếc bút chì cũng được hạch toán y như thế. Người sản xuất bút chì chỉ cần biết chi  phí bỏ ra cho gỗ, than chì, máy móc, nhân công là bao nhiêu. Trước đó, người sản xuất máy móc, than chì, gỗ lại chỉ cần biết chi phí đầu vào của mình là bao nhiêu. Vân vân. Bởi vì cái gì cũng có điểm xuất phát, và ở điểm xuất phát đó các chi phí ban đầu xác định được như đã trình bày ở trên, nên mặc dù chiếc bút chì là kết quả của hàng ngàn công đoạn sản xuất nhưng chi phí lao động cho nó lại không hề khó xác định như người ta tưởng sau khi đọc bài I, pencil.


Về nguyên tắc là thế, nhưng trên thực tế người ta không tính trực tiếp chi phí lao động cho chiếc bút chì hết bao nhiêu giờ lao động, mà tính một cách gián tiếp, thông qua “giá trị”.


Lại phải quay ngược về lịch sử. Thời gian đầu người ta trao đổi sản phẩm một cách trực tiếp. Dần dần, việc trao đổi ngày càng thường xuyên, thì cách trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng tỏ ra bất tiện. Vậy là trong số các hàng hóa đang có trên thị trường người ta lựa ra một số hàng hóa nào đó làm vật ngang giá chung, ví dụ trâu bò chẳng hạn. Nếu công sức nuôi một con bò tới lúc trưởng thành là 1 năm = 360 ngày, thì nó có thể trao đổi với 120 chiếc bàn thường, hay 90 chiếc bàn khảm trai. Ngược lại, mỗi chiếc bàn bình thường được tính là 1/120 con bò. Trên cơ sở đó người ta quy ra tỷ lệ trao đổi giữa các hàng hóa khác nhau một cách dễ dàng. Trong bài Bổ sung nhắc tới ở trên, Engels nhận xét rằng gia súc như bò hay cừu là loại hàng hóa có vẻ rất khó xác định chi phí lao động, thế nhưng việc lấy gia súc làm vật ngang giá chung cho thấy kinh nghiệm chăn nuôi hàng ngàn năm đã giúp những người chăn nuôi xác định một cách tương đối chính xác chi phí lao động cho mỗi con gia súc trung bình là khoảng bao nhiêu. Sau này, như chúng ta biết, ở hầu hết mọi nơi vàng và bạc được lựa chọn làm vật ngang giá chung. Tiền tệ ra đời như thế.


Khi đã có tiền rồi thì người ta không nói “đống gỗ của tôi đáng giá 1 ngày công” nữa, mà quy nó ra tiền, ví dụ 1 chỉ vàng, vì công sức khai thác 1 chỉ vàng là 1 ngày công. Như thế, khi nói “đống gỗ này tương đương, hay có giá trị ngang với 1 chỉ vàng” là người ta ám chỉ rằng đống gỗ đó chứa một lượng lao động đã hao phí là 1 ngày công. Giá trị của hàng hóa chỉ là biểu hiện của lượng lao động kết tinh trong nó. Vì thế trong Tư bản Marx thường xuyên có cách viết thế này: “Người công nhân sử dụng hết 1 libre sợi có giá trị 3 sterling, biểu hiện của 3 giờ lao động”.


Đây chính là điều khác biệt căn bản giữa Marx và các nhà kinh tế học tiền bối như A. Smith, D. Ricardo, những người cho rằng “giá trị của hàng hóa được đo bằng lượng lao động hao phí”. Marx chỉ ra rằng, tuy giá trị do lượng lao động hao phí quyết định, nhưng không phải giá trị được đo bằng lượng lao động hao phí, mà giá trị chỉ là biểu hiện của lượng lao động hao phí. Hai cách diễn đạt này, thoạt nhìn thì có vẻ giống nhau, nhưng thực ra rất khác nhau. Khác nhau thế nào?


Mối tương quan giữa lao động và giá trị giống như mối tương quan giữa quán tính và khối lượng của một vật vậy. Nói rằng giá trị hàng hóa được đo bằng lượng lao động hao phí thì cũng sai lầm y như nói rằng khối lượng của một vật được đo bằng quán tính của vật đó. Nói cho chính xác thì khối lượng của một vật là biểu hiện của quán tính của vật đó; thông qua khối lượng của một vật, đo bằng kg, người ta gián tiếp biết được quán tính của vật đó là bao nhiêu so với quán tính của các vật khác. Người ta không đo trực tiếp quán tính của một vật, mà xác định nó một cách gián tiếp thông qua “khối lượng” của nó, đo bằng kg, tức là tỷ lệ giữa “khối lượng” của nó với một vật chuẩn được quy ước có “khối lượng” 1 kg. Một vật có khối lượng càng lớn, hay nói cách khác là càng “nặng”, thì đó là biểu hiện của việc quán tính của nó càng lớn. Điều này tương tự với việc một vật có “giá trị” càng lớn, tức là càng “đắt”, thì đó là biểu hiện của việc lượng lao động kết tinh trong nó càng lớn. Vì thế, thông qua khối lượng và giá trị, nếu muốn người ta có thể suy ra lượng lao động kết tinh, là bao nhiêu, ví dụ như tính lượng lao động kết tinh trong chiếc bút chì.


Bây giờ quá trình hạch toán chi phí lao động chuyển thành hạch toán chi phí tính bằng tiền, theo lối lũy kế. Nguyên tắc không có gì thay đổi: mỗi người sản xuất không cần biết chi phí cho từng công đoạn trước đó là bao nhiêu, chỉ cần biết chi phí lũy kế cuối cùng là bao nhiêu. Cho dù việc sản xuất ra chiếc bút chì phải trải qua hàng ngàn hay hàng triệu công đoạn, thì người trực tiếp sản xuất bút chì vẫn biết rất chính xác chi phí cho mỗi chiếc bút chì là bao nhiêu, từ đó đặt ra mức giá bán tương ứng. Mà như đã nói ở trên, chi phí tính bằng tiền chỉ là biểu hiện, là cách diễn đạt khác của chi phí lao động kết tinh trong chiếc bút chì, cho nên dựa trên giá cả tính bằng tiền của chiếc bút chì có thể tính ra ngay số tiền đó biểu hiện cho lượng lao động kết tinh là bao nhiêu, ví dụ 10 phút lao động phổ thông.  Ta chỉ lấy giá cả trung bình, là cái gần với “giá trị” hơn cả, bỏ qua những sự dao động của giá cả xung quanh giá trị do đủ thứ yếu tố tạm thời. Dĩ nhiên việc tính toán đó chỉ là cho vui để thỏa mãn thắc mắc của một số người mà thôi, chứ trong thực tế chả ai rỗi hơi đi làm việc này làm gì hết.


Mối quan hệ giữa giá cả/giá trị/lượng lao động kết tinh là như vậy. Nếu không hiểu vấn đề, người ta sẽ tưởng rằng LTV chỉ biết có lao động mà không biết đến các yếu tố khác có ảnh hưởng (mà họ tưởng là quyết định) đến giá cả. Người ta cũng dễ tưởng lầm rằng LTV đòi hỏi phải tính chi phí lao động theo thời gian lao động, kể cả khi đã có tiền tệ làm thước đo giá trị, rồi mới quy ra giá trị, và vì không thể tính chi phí lao động cho chiếc bút chì (sic!) nên không thể xác định được giá cả của chiếc bút chì. Mọi sự hiểu lầm đó, chung quy lại, chỉ vì những người  phê phán LTV  thường là chưa bao giờ đọc các nghiên cứu LTV một cách đàng hoàng cả.


Những người chống lại LTV thường là hiểu rất lơ mơ về LTV, kể cả các khái niệm căn bản nhất như giá trị sử dụng, giá trị trao đổi, giá trị, giá cả, giá thành sản xuất, giá cả sản xuất. Họ thường xuyên lấy cái cách hiểu khái niệm “giá trị” của mình ra để phản bác LTV – một việc làm rất buồn cười.
 “Giá trị” trong LTV là cái neo mà “giá cả” của hàng hóa bám vào và dao động xung quanh. Nó giải thích, vì sao giá của chiếc áo mưa lại quanh quẩn ở mức 5,000 – 7,000 đ, mà không vọt lên 500,000 đ, hay tụt xuống 500 đ, bất kể cảm nhận chủ quan của người mua như thế nào, hay điều kiện thời tiết ra sao. Đây là điều mà các lý thuyết khác không giải thích được.


Bản thân các doanh nghiệp, dù không nghiên cứu lý thuyết giá trị, nhưng lại thực hành một cách vô ý thức LTV. Mỗi khi sản xuất ra một mặt hàng mới nào đó thì họ không làm cái việc như S. Jobs của bác Giang làm, là dọ giá từ mức 1$ cho tới 1 triệu $ để vẽ đường cong cung cầu. Họ lấy chi phí sản xuất làm cái mốc, sau đó cộng với lợi nhuận trung bình (để tạo nên cái mà bác Đàm Văn Vĩ gọi là giá cả sản xuất), và bắt đầu dọ giá xung quanh cái mức đó. Chỉ ở đây họ mới bắt đầu áp dụng những cái mà kinh tế học vi mô nghiên cứu: tăng giá 10% thì lượng tiêu thụ là bao nhiêu, giảm giá 10% thì lượng tiêu thụ là bao nhiêu, bán ở mức giá bao nhiêu thì đạt lợi nhuận tối đa, v.v…


Những người mới chỉ học kinh tế học vi mô cứ tưởng rằng LTV không biết những điều đó, cho rằng đó là thiếu sót, khiếm khuyết của LTV.


Những trình bày dài dòng trên đây thực ra có thể tóm gọn trong hai câu:
  1. Chi phí lao động của chiếc bút chì được tính theo phương pháp lũy kế;
  2. Khi tiền tệ xuất hiện thì việc tính toán chi phí lao động chuyển thành tính toán giá trị với đơn vị đo là tiền.
Đây chỉ là trình bày hết sức sơ sài về LTV, và rất có thể ai đó lại vội vã vặn vẹo này nọ về những điểm chưa thể trình bày kỹ lưỡng cũng nên. Do mục đích của bài viết nên ở đây chưa đề cập đến một loạt vấn đề thuộc loại lặt vặt như:
-       Lượng lao động xã hội trung bình được xác định như thế nào? Cạnh tranh đóng vai trò thế nào trong việc xác lập chi phí lao động xã hội trung bình?
-       Thế nào là lao động cụ thể, lao động trừu tượng?
-       Lao động phức tạp, trình độ cao được quy về lao động giản đơn như thế nào?
-       Vì sao cùng một công khai thác lên mà cục kim cương lớn, con cá có thịt ngon, quả táo chín đỏ đẹp đẽ lại có giá bán cao hơn cục kim cương nhỏ, con cá thịt không ngon, quả táo nhỏ và chua?
-       Ví sao hàng hiệu giá đắt thế, trong khi chi phí cho nguyên liệu, nhân công chả khác gì so với hàng không có thương hiệu?
-       Vì sao giá đất mỗi nơi một khác? Chi phí lao động liên quan gì ở đây?
-       Vì sao quy luật giá trị lại hoạt động khác nhau ở nền sản xuất hàng hóa giản đơn và nền sản xuất  hàng hóa TBCN?
-        A. Smith lúng túng như thế nào giữa hai quan điểm: 1) giá trị đo bằng lượng lao động bỏ ra và  2) giá trị đo bằng lượng lao động mua về?
-       Quy luật giá trị thì liên quan gì đến giá trị thặng dư? GTTD khác với lợi nhuận thế nào?
-       Vì sao phạm trù giá trị thặng dư chỉ nảy sinh trong nền sản xuất TBCN mà không có trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn?
-       Vì sao A. Smith lại lúng túng và buộc phải loại bỏ quy luật giá trị dựa trên lao động hao phí khi nghiên cứu vấn đề giá trị thặng dư trong nền kinh tế TBCN?
-       Vì sao trường phái Ricardo lại phá sản khi sử dụng LTV để nghiên cứu vấn đề giá trị thặng dư?
-       Vì sao nói rằng lý thuyết GTTD của Marx không chỉ dựa trên LTV, mà còn giúp cho LTV đứng vững?
-       Marx nói gì về giá của cổ phiếu?
-       Marx  giải thích sự hình thành lãi suất như thế nào?
-        Marx dựa trên LTV chứng minh khủng hoảng là thuộc tính tất yếu của nền sản xuất TBCN như thế nào?
-       V.v….
Để hiểu những vấn đề đó một cách thấu đáo, không có gì tốt hơn là tìm đọc các trước tác của các vị tiền bối LTV như Smith, Ricardo, K. Marx.

Kaufmann

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011

Benford's law


Tôi đã có lần đề cập đến Benford's law trên blog này. Mấy hôm nay giới blogosphere lại bàn tán sôi nổi về đề tài này sau một bài viết của Jialan Wang, một giáo sư tài chính tại Washington University. Với những ai chưa biết Benford's law có thể tóm tắt qui luật này như sau: các con số (hệ thập phân) trong tự nhiên (vd độ dài một con sông, chiều cao một tòa nhà, lợi nhuận một công ty...) có một tính chất kỳ lạ là first digit có một distribution không đồng đều mà tuân thủ theo qui luật giảm dần, số 1 có xác suất xuất hiện khoảng 30%, số 2 khoảng 17.6%,... số 9 khoảng 4.5%:

(Nguồn Wikipedia)


Qui luật này trái ngược với intuition của nhiều người (cho rằng các con số có xác suất xuất hiện như nhau) cho nên nó có một ứng dụng rất thú vị là dùng để điều tra khả năng các con số được làm giả hoặc bị hiệu chỉnh. Một người khi làm giả/hiệu chỉnh số liệu sẽ có xu hướng đưa ra những con số có first digit tuân thủ theo uniform distribution, do đó có thể bị phát hiện nếu những con số làm giả được phân tích  để so sánh với phân bố theo Benford's law. Jialan Wang đã làm đúng như vậy với số liệu về asset và revenue của 20000 công ty Mỹ, so sánh xác suất phân bổ các số thập phân của first digit với Benford's law và tính sum of square (SS) cho tất cả các sai số này. Nếu SS lớn thì sai lệch so với Benfords' law cao và nhiều khả năng số liệu đã được hiệu chỉnh. Kết quả của Wang cho thấy một xu hướng "làm giả" số liệu khá rõ, tăng liên tục trong suốt 50 năm qua.


(Nguồn: Jialan Wang)


Tim Harford cách đây không lâu cũng chỉ ra một nghiên cứu của một nhóm tác giả Đức dùng phương pháp này để kiểm tra mức độ "trung thực" của số liệu thống kê kinh tế của Hi lạp. Kết luận của nhóm nghiên cứu này là số liệu của Hi lạp cách biệt với Benford's law nhiều nhất so với số liệu của các thành viên khác trong EMU, dấu hiệu cho thấy Hi lạp đã sửa số liệu thống kê cho "đẹp" để được tham gia vào liên minh Euro. Tương tự như vậy một nhóm nghiên cứu của IMF cũng dùng phương pháp này để đánh giá chất lượng các thống kê kinh tế mà các nước nộp cho IMF (mặc dù một nghiên cứu khác cho rằng phương pháp này chưa chắc đã chính xác). Đến đây chắc bạn sẽ đặt câu hỏi vậy số liệu thống kê của TCTK VN thì sao, liệu có cách quá xa Benford's law hay không?

Để đánh giá mức độ "trung thực" theo Benfords' law của số liệu do TCTK công bố, tôi thu thập một số nhóm số liệu (từ Datastream) với tiêu chí những số liệu này có độ lớn thay đổi khá nhiều trong sample (multiple magnitude) và có số observation lớn hơn 100. Sau đó tôi tính empirical distribution của các số thập phân ở first digit rồi so sánh với Benfords' law distribution. Tất nhiên empirical distribution không thể trùng chính xác với Benfords' law, tuy nhiên có thể dùng Chi-square test để đánh giá mức độ sai lệch này có statistically significant hay không. The bài báo của IMF (link bên trên) và của một nhóm nghiên cứu khác (link trong comment của Đỗ Quốc Anh bên dưới), statistic sau đây tuân thủ theo Chi-square distribution với 8 degree of freedom nến số observation lớn hơn 30.



Ở 5% confidence level Chi-square stat có giá trị là 15.51, nghĩa là nếu statistic tính được nhỏ hơn con số này thì không thể phân biệt được empirical distribution với theoretical Benfords' law. Ngược lại nếu số statistic lớn hơn 15.51 thì số liệu thống kê có khác biệt đáng kể so với Benfords'. Dưới đây là kết quả tôi tính toán được với số statistic của mỗi trường hợp trong ngoặc đơn trên title của đồ thị:










Như vậy có thể thấy số liệu nominal GDP (chia theo nhóm ngành) và số retail sales (chia theo ownership và nhóm ngành) tuân thủ khá tốt Benfords' law (statistic <15), trong khi những nhóm khác (money supply, SBV balance sheet, current/capital accounts, industrial outputs) có kết quả khác rất xa lý thuyết. Tất nhiên sai lệch so với Benfords' law không có nghĩa là số liệu không chính xác, cần tìm hiểu kỹ thêm tính chất của nhóm số liệu trước khi "kết tội" TCTK. Nhưng đây là dấu hiệu đầu tiên cảnh báo các nhà nghiên cứu phải thận trọng khi sử dụng những số liệu này, TCTK cũng nên xem xét lại qui trình thu thập và compile số liệu của mình.



Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Football


Cách đây gần 2 năm tôi có viết một entry về vụ Jetstar Pacific, trong đó tôi cho rằng nhiều khả năng các executives của JP đã cố tình speculate xăng dầu nhưng không may thất bại (lỗ $31m). Có thể nói đó là trường hợp "rogue trading" đầu tiên của VN nếu nghi ngờ của tôi chính xác. Lúc đó tôi không biết nhiều về airlines industry và tôi cho rằng trường hợp JP là hãn hữu vì các hãng hàng không lớn chỉ tập trung vào core business vận chuyển hành khách. Nhưng hóa ra tôi nhầm. Trong một podcast mới đây của NPR, Satyajit Das, một chuyên gia tài chính từng làm việc cho một hãng hàng không lớn của Mỹ, cho biết việc speculation xăng dầu như vậy không phải hiếm. Đã có thời điểm lợi nhuận từ speculation thay vì hedging xăng dầu chiếm phần lớn lợi nhuận của toàn bộ hãng hàng không này.

Nhưng đó chỉ là một khía cạnh rất nhỏ của một trào lưu kinh doanh tràn vào nền kinh tế Mỹ từ những thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước: financialization. Satyajit Das cho rằng từ vị trí là một ngành dịch vụ trợ giúp cho các ngành công nghiệp khác phát triển, banking hay rộng hơn là financial industry đã dần dần trở thành tâm điểm của nền kinh tế. Cũng cách đây 2 năm, Krugman có một loạt bài đả kích quá trình financialization này, cho rằng ngành tài chính nên quay về là một "boring industry" như thời trước những năm 70. Ở thời điểm đó tôi không tán thành quan điểm của Krugman, nhất là lập luận rằng trong 30-40 năm qua tất cả các financial innovation đều useless, nến không muốn nói là harmful. Tuy nhiên sau khi nghe podcast nói trên của NPR và suy nghĩ về vấn đề "price vs value", tôi chợt liên hệ finance với ... bóng đá :-)

Từ thập kỷ 60-70 đến nay diện mạo của "ngành công nghiệp bóng đá" đã thay đổi rất nhiều, cho dù luật chơi của môn thể thao này chỉ có vài thay đổi nhỏ. Ngày nay những cầu thủ giỏi được trả lương cao gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với mức lương trung bình trong xã hội. Các giải vô địch, các câu lạc bộ tiếng tăm đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia trở thành những cái tên quốc tế. Từ chỗ là một môn thể thao giải trí đơn thuần nó đã trở thành một cỗ máy in tiền cho những nhà đầu tư thứ thiệt với những hợp đồng bản quyền, tài trợ khổng lồ. Nếu sửa chữ bóng đá thành finance và một vài từ khác trong đoạn viết trên thì nội dung vẫn rất chính xác, hai lĩnh vực này dù bản chất rất khác nhau nhưng có nhiều biến chuyển rất giống hệt nhau trong nửa thế kỷ vừa qua.

Trong entry phản biện lại phê phán của Krugman tôi đã so sánh finance với bóng đá nhưng có một điểm tôi chưa nghĩ tới. Đó là "value" của financial industry và "value" của bóng đá có lẽ không thay đổi nhiều trong mấy chục năm qua nhưng cả hai ngành này đều có "price" tăng lên nhiều lần. Điều này tốt hay xấu phụ thuộc vào quan điểm và vị trí của từng người. Với người hâm mộ chắc hẳn không ai thích thú gì khi một cầu thủ ngôi sao từ chối đá cho đội tuyển quốc gia để khỏi bị chấn thương, điều không bao giờ xảy ra ở thời Pele, Beckenbauer. Ngược lại liệu thế hệ Ba Đẻn, Tam Lang có không khỏi ngậm ngùi khi thấy lớp đàn em dù kém tài nhưng sẽ được thưởng hơn triệu đô nếu vô địch một giải bóng đá vô danh tiểu tốt. Tôi không phán xét tốt xấu ở đây.

Vấn đề quan trọng hơn là liệu financialization trong kinh tế và commercialization trong bóng đá có phải là xu hướng tất yếu hay không trong cơ chế tổ chức kinh tế xã hội hiện tại (capitalism)? Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng tôi tin rằng Francis Fukuyama đã sai khi cho rằng hình thái xã hội cuối thế kỷ 20 là cuối cùng của nhân loại. Bài toán tối ưu về justice/fairness vẫn chưa có lời giải, chưa kể resource constraints bất cứ lúc nào cũng có thể đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng mới, nhẹ thì làm vài ngân hàng/công ty phá sản, kinh tế suy thoái còn nặng hơn có thể dẫn đến war/conflict. Ở điểm này tôi đồng ý với Krugman là nền văn minh hiện tại dựa trên liberal democracy thực ra rất mong manh, một cú shock ngẫu nhiên hay một chính sách sai lầm, vd chiến tranh thương mại, có thể xóa sạch thành quả kinh tế xã hội tích cóp hàng chục năm. Thế mới thấy cần thông cảm cho người Nga khi họ tiếp tục lựa chọn sống với sa hoàng Putin, nhiều khi người ta thấy an toàn hơn khi bị gò bó trong một căn phòng chật trội hơn là tự do giữa biển cả mênh mông.


Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Nobel prize


1. Một số quick comments:

- Sau 3 năm giải Nobel kinh tế được trao cho những người có khuynh hướng leftist, năm nay 2 nhà kinh tế được giải đều có khuynh hướng rightist, chính Krugman phải thừa nhận giải năm nay thuộc về phe "fresh water".

- Giải trao cho Christopher Sims có thể nói là "a slap in Krugman's face" vì một trong những công trình quan trọng nhất của Sims là chứng mình empirical model dựa vào IS-LM kém hơn một simple VAR và Sims đề nghị bỏ IS-LM khỏi textbook, điều mà Krugman dè bỉu (dark age) lâu nay trên blog.

- Giải năm nay có thể tóm gọn lại là trao cho mảng nghiên cứu về VAR/SVAR, nghĩa là empirical/econometric macro.

- Một trong những favorite macro textbook của tôi là quyển Macroeconomic Theory của Sargent dù khá cũ (ông còn có 2 quyển khác mới hơn nhưng tôi không thích bằng quyển này). Mấy hôm trước tôi tình cờ mở ra xem lại quyển này nhân cuộc tranh luận trên blogosphere về IS-LM, 3 chương đầu thực sự là classic work, rất cần thiết cho các mô hình VAR/SVAR sau này.

- Tôi không biết giới economist ở VN dịch thuật ngữ VAR như thế nào. Bài báo này dịch "vector autoregressive" thành “sự tự điều chỉnh véc-tơ” không được chuẩn lắm. Regressive/regression đã được dịch rộng rãi là "hồi qui", cho nên autoregressive có thể dịch là "tự hồi qui". Vector tất nhiên là véc-tơ nhưng nếu tôi được đề nghị dịch tôi sẽ dịch thành "hệ" (với nghĩa là một hệ thống nhiều biến số/phương trình), VAR dịch thành "hệ tự hồi qui", SVAR là "hệ tự hồi qui có cấu trúc".

- Một bài viết giới thiệu về identification problem mà Sims đã giải quyết, và về causality test sử dụng impulse response functions.

- MR có 2 bài tóm tắt về các công trình của Sargent Sims.

- Các bạn sinh viên kinh tế nên đọc bài review này của Nobel Committee.

- Không kể Krugman, không phải ai cũng hào hứng về giải Nobel kinh tế năm nay, ví dụ ở đây đây.

- Ứng dụng VAR và residual decomposition để phân tích ảnh hưởng của giá dầu vào kinh tế.


2. Một version của phần dưới đây đã đăng trên SGTT:


Cho đến cuối thập kỷ 1960, giới nghiên cứu và hoạch định chính sách vĩ mô sử dụng những mô hình kinh tế thực nghiệm (macroeconometric models) được xây dựng trên cơ sở lý thuyết Keynes để phục vụ cho công tác phân tích và dự báo kinh tế. Một số mô hình nổi tiếng như Multimod, Fair, Wharton, Nigem, Murphy bao gồm hàng chục, thậm chí hàng trăm phương trình biểu diễn các quan hệ kinh tế vĩ mô quan trọng. Mỗi phương trình biểu diễn quan hệ (linear) của một biến số vĩ mô với các biến khác trong mô hình hoặc các biến exogenous (biến ngoài mô hình). Ví dụ tổng đầu tư của nền kinh tế sẽ là một phương trình phụ thuộc vào lãi suất và xu hướng FDI, hay lạm phát sẽ phụ thuộc vào cung tiền và giá nguyên liệu thô trên thế giới.

Vào cuối giai đoạn này các nhà kinh tế đã nhận thấy hai khiếm khuyết quan trọng của nhóm mô hình này. Thứ nhất rất nhiều lý thuyết cho rằng các biến số kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quan hệ hiện thời mà còn phụ thuộc vào kỳ vọng trong tương lai, ví dụ điển hình nhất là lãi suất danh nghĩa phụ thuộc vào kỳ vọng lạm phát. Hầu hết các mô hình lúc đó đều chỉ sử dụng exogenous expectation, nghĩa là yếu tố này phải được xác định bên ngoài mô hình. Rõ ràng đây là một khiếm khuyết cực lớn vì như vậy những phân tích/dự báo sử dụng các mô hình này phải phụ thuộc vào giả định của expectation - hay nói cách khác những mô hình loại này chẳng dự báo được gì vì cần đầu vào là một thứ dự báo khác. Thứ hai, các biến số nội tại bên trong các mô hình đó không thể tương tác qua lại với nhau ngoài một số giả định rất đơn giản. Tất nhiên kỹ thuật VAR đã có trước đó nhưng vấn đề là nó chỉ áp dụng được cho các reduced form system, nghĩa là những hệ phương trình đã được giải ra từ mô hình lý thuyết. Điều này dẫn đến vấn đề identification problem (xem link bên trên) nghĩa là sau khi ước lượng VAR các residual không có ý nghĩa kinh tế và do vậy không giúp gì cho việc phân tích kết quả mô hình.

Vào những năm đầu thập kỷ 1970, hai nhà kinh tế trẻ Thomas Sargent và Christopher Sims trong quá trình tìm lời giải cho hai thách thức này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực mô hình hóa kinh tế vĩ mô. Sims với một loạt nghiên cứu của mình đã đưa ra một phương pháp mới ước lượng toàn bộ các phương trình vĩ mô bằng VAR do đó cho phép các biến số có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điểm đặc biệt trong phương pháp của Sims là khả năng phân tách (decompose) từng cú sốc ngẫu nhiên trong mô hình để chỉ ra nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát hay suy thoái kinh tế. Cụ thể, Sims đưa ra một phương pháp decompose VAR residuals dựa vào việc xắp xếp thứ tự các phương trình trong VAR để phản ánh thứ tự ảnh hưởng của các biến số lên nhau. Ví dụ phương trình cho output được xếp bên dưới phương trình lãi suất và lạm phát vì output chịu ảnh hưởng của cả 2 loại shocks này. Không những thế phương pháp của Sims còn giúp các nhà kinh tế ước lượng được mức độ và thời gian phản ứng của một nền kinh tế cụ thể với từng loại sốc khác nhau thông qua impulse response functions, do đó vừa giúp cho công tác dự báo dễ dàng hơn vừa có thể đề ra những chính sách đối phó thích hợp (xem link bên trên về ứng dụng xác định ảnh hưởng của giá dầu vào tăng trưởng).

Song song với Sims, Sargent đã thành công đưa yếu tố kỳ vọng (rational expectation) vào các mô hình kinh tế thực nghiệm. Điểm đột phá quan trọng của Sargent là biến đổi những yếu tố kỳ vọng thành một số phương trình giới hạn đồng thời (cross equation constraints) lên một vài biến số vĩ mô trong một hệ VAR. Để thực hiện điều này Sargent đã đưa ngược các cấu trúc kinh tế trở lại VAR (do đó gọi là structural VAR để phân biệt với reduced form VAR của Sims). Nhờ sáng kiến này mà một mô hình phụ thuộc vào các yếu tố kỳ vọng trong tương lai có thể rút gọn về một hệ VAR mà Sims đã tìm ra lời giải trước đó không lâu. Trong khi Sims nhấn mạnh vào số liệu thực tế và đơn giản hóa tối đa cấu trúc lý thuyết (ngay cả việc ordering các phương trình cũng cần rất ít lý thuyết), Sargent đã khéo léo đưa các quan hệ lý thuyết quay trở lại mô hình mà không phá vỡ phương pháp ước lượng của Sims. Chính nhờ cách biến đổi của Sargent cho phép mô hình hóa những quan hệ kinh tế cơ bản nhất (micro-based models) mà những mô hình xây dựng theo phương pháp này có thể áp dụng ngay cả khi các chính sách hay cơ chế kinh tế thay đổi (miễn là các hành vi micro không đổi).

Mặc dù hai nhà kinh tế này, nhất là Sargent, còn nhiều đóng góp quan trọng khác cho kinh tế học, giải Nobel Kinh tế năm nay được xác nhận trao cho công trình các mô hình kinh tế vĩ mô thực nghiệm của họ (empirical macroeconomic models). Quả thực đây là thời điểm mà nhiều tranh luận chính sách cần câu trả lời từ các kết quả ước lượng thực nghiệm. Liệu các chính sách kích cầu có hiệu quả như lý thuyết chỉ ra hay không? Liệu các biện pháp nới lỏng số lượng tiền tệ có ảnh hưởng gì lên tăng trưởng tín dụng hay không? Một cú sốc giá dầu thô sẽ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thế giới như thế nào? Những câu hỏi này chỉ có thể trả lời được bằng các mô hình vĩ mô thực nghiệm hiện đại mà nền tảng được xây dựng trên phương pháp của Sims và Sargent. [Nói cho công bằng, macroeconometric models của những năm 60 hay thậm chí univariate time series vẫn còn được sử dụng khá rộng rãi, bên cạnh đó DSGE với Bayesian VAR đang dần dần thay thế VAR cổ điển].

Với những vấn đề kinh tế nóng hổi của Việt nam như nguyên nhân nào gây nên lạm phát gia tăng tăng hay hiện tại đã nên hạ dần lãi suất hay chưa cũng rất cần trả lời bằng một mô hình kinh tế thực nghiệm. Ngay cả khi Việt nam chưa có một mô hình VAR hay SVAR chất lượng để trả lời trực tiếp những câu hỏi đó, những kết quả nghiên cứu của Sims và Sargent có nhiều gợi ý chính sách quan trọng. Ví dụ kết luận của Sargent về vai trò quyết định của chính sách tài khóa trong việc chống lạm phát hay ước lượng của Sims về khoảng thời gian một đến hai năm thắt chặt tiền tệ mới kéo được kỳ vọng lạm phát xuống ít nhất cũng gợi ý cho Việt nam nên đối phó với lạm phát qua những kênh chính sách nào. Hi vọng Thomas Sargent và Christopher Sims sẽ được nhắc đến nhiều hơn ở Việt nam ngay cả sau khi giải Nobel Kinh tế không còn nóng nữa.


NEER/REER Update

Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/...