Hiển thị các bài đăng có nhãn Inflation. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Inflation. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Big Mac Index


1.
Đầu tháng 2/2014 cái tên Vietnam xuất hiện rất nhiều trên báo chí quốc tế nhờ vào ... Flappy Bird và McDonald's. Trái với Flappy Bird đến và đi rất nhanh, franchise McDonald's đầu tiên của VN đã phải mất gần mười năm mới mở cửa được và chắc sẽ ở lại mảnh đất này lâu dài. Nếu Thomas Friedman đúng, sự hiện diện của McDonald's biết đâu sẽ giúp VN tránh được đụng độ quân sự với anh láng giềng phương Bắc trong những năm tới(*). Trước mắt sự hiện diện của McDonald's đã giúp cho VN lọt vào danh sách thành viên của Big Mac Index (BMI) của tạp chí The Economist. Mặc dù ý nghĩa kinh tế và học thuật của BMI không đáng kể (ý tưởng BMI có nguồn gốc từ một lời nói đùa), việc VN được một tạp chí kinh tế tài chính hàng đầu thế giới quan tâm là một tín hiệu đáng mừng (**).

(*) Trong quyển The Lexus and the Olive Tree năm 1999, Thomas Friedman đã đưa ra một giả thuyết gọi là "Golden Arches Theory of Conflict Prevention", theo đó 2 quốc gia cùng có sự hiện diện của McDonald's sẽ không gây chiến với nhau. Mặc dù đã có một vài ngoại lệ, thuyết này cho đến nay về cơ bản khá chính xác.

(**): Hiện tại McDonald's đã có mặt ở 122 quốc gia, tuy nhiên BMI chỉ bao gồm 44 quốc gia và vùng lãnh thổ (thực tế là 55 quốc gia nhưng 12 nước trong EMU đã được gộp chung lại trong một chuỗi index sau khi đồng Euro ra đời).


2.
Khi nói về BMI người ta thường đề cập đến khái niệm Purchasing Power Parity (PPP), ở đây tôi sẽ giải thích kỹ hơn về khái niệm này để tránh nhầm lẫn (bạn nào không quan tâm đến học thuật có thể bỏ qua đoạn này). Trước hết cần phân biệt "lý thuyết" PPP do Gustav Cassel đưa ra năm 1918 với "tỷ giá" PPP do University of Pennsylvania đưa ra từ những năm 1960 và hiện được World Bank quản lý. Hai khái niệm này có cùng gốc gác nhưng hiện được sử dụng độc lập với nhau và rất dễ hiểu nhầm.

Gustav Cassel, nhà kinh tế người Thụy điển cùng thời với Keynes và Hayek, đưa ra ý tưởng xác định tỷ giá giữa 2 đồng tiền dựa vào một qui luật kinh tế khá lâu đời là "law of one price" (LOP), theo đó một loại hàng hóa nhất định sẽ chỉ có thể có một giá dù được mua bán ở các địa điểm khác nhau (nếu không arbitrage sẽ nhanh chóng xảy ra và giá sẽ được quân bình). Cassel cho rằng nếu chi phí vận tải không đáng kể và giữa 2 quốc gia không có hàng rào thuế quan thì LOP sẽ dẫn đến việc tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai quốc gia đó phải ở mức đảm bảo giá của một mặt hàng giống nhau ở 2 bên biên giới phải như nhau dù niêm yết bằng đồng tiền nào cũng vậy.

Nói nôm na nếu một chiếc xe hơi ở Mỹ có giá 50000 USD còn ở VN giá 1 tỷ VND thì tỷ giá VNDUSD tuân theo lý thuyết PPP sẽ phải là 20000 VND/USD (giả sử chi phí chuyên chở và thuế quan không đáng kể). Điều này đảm bảo rằng sức mua của 50000 USD ở Mỹ hay ở VN đều như nhau, hay ngược lại sức mua của 1 tỷ VND ở đâu cũng vậy miễn là hai đồng tiền này được tự do chuyển đổi. Đó là lý do của tên gọi Purchasing Power Parity. Khi tỷ giá thực tế không đảm bảo LOP hoặc PPP, một đồng tiền sẽ bị cho là undervalued hoặc overvalued so với đồng tiền kia. Ví dụ nếu giá xe hơi ở Mỹ và VN vẫn giữ như trên nhưng tỷ giá thị trường là 21000 VND/USD thì VND bị cho là undervalued hay USD bị overvalued. Nói cách khác giá của chiếc xe đó ở VN nếu qui đổi sang USD sẽ là 47679 USD, rẻ hơn so với giá ở Mỹ nên LOP không còn đúng nữa và tỷ giá đã không tuân theo PPP.

Giới kinh tế học gọi lý thuyết PPP như trình bày bên trên là absolute PPP, nghĩa là PPP áp dụng cho mặt bằng giá (level) của các loại hàng hóa(#). Mặc dù lý thuyết này rất dễ hiểu và có vẻ chặt chẽ, không cần là chuyên gia kinh tế bạn cũng có thể chỉ ra hàng loạt lý do absolute PPP không thể đúng trên thực tế. Ai cũng có thể thấy giá (tính ra USD) của rất nhiều mặt hàng ở VN khác xa so với giá ở nước ngoài, từ xe hơi, đồ điện tử, cho đến thuốc uống, sữa trẻ em. Trong hàng chục năm qua các nhà kinh tế đã sử dụng rất nhiều kỹ thuật kiểm định từ đơn giản đến hiện đại để tìm cách chứng mình LOP và PPP nhưng đa số đã thất bại (xem thêm entry này). Bởi vậy một phiên bản PPP ít chặt chẽ hơn được đưa ra, gọi là relative PPP. Theo lý thuyết này bất kể LOP hiện tại có đúng hay không tốc độ thay đổi tỷ giá của hai đồng tiền giữa hai thời điểm phải phản ánh tốc độ lạm phát của hai quốc gia.

Quay lại ví dụ giá xe hơi bên trên. Giả sử giá xe năm 2013 là 50000 USD ở Mỹ và 1 tỷ VND ở VN, tỷ giá hiện tại là 21000 VND/USD. Nếu trong năm 2014 lạm phát ở VN là 10%, nghĩa là giá xe sẽ tăng lên 1.1 tỷ VND, trong khi lạm phát ở Mỹ chỉ là 2%, giá xe tăng lên 51000 USD, thì tỷ giá sẽ tăng lên 8% (= chênh lệch lạm pháp) nghĩa là 22680 VND/USD. Trong trường hợp này relative PPP đúng và sức mua giữa hai năm 2013 và 2014 không thay đổi. Hay nói theo ngôn ngữ kinh tế học là tỷ giá thực (real exchange rate) không thay đổi. Đa số các nhà kinh tế cho rằng absolute PPP không đúng trên thực tế, may ra relative PPP có thể đúng dù có cũng có nhiều lý do ảnh hưởng đến đọ chính xác của nó (vd chi phí vận tải, hàng rào thuế quan, có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không vận chuyển được, bản chất nền kinh tế khác nhau).

Tóm lại lý thuyết absolute PPP liên quan đến mặt bằng giá ở một thời điểm, relative PPP liên quan đến tốc độ trượt giá tương đối ở hai thời điểm. Với absolute PPP bạn có thể nói tại một thời điểm tỷ giá của một đồng tiền bị under/overvalued, với relative PPP có thể nói tốc độ devaluation/appreciation của một đồng tiền giữa hai thời điểm có phản ánh đủ chênh lệch lạm phát hay không. Giới báo chí (như trường hợp BMI của The Economist) và đa số người dân thường chỉ hiểu PPP theo nghĩa absolute. Giới finance dù hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP cũng hay giả định tỷ giá xuất phát điểm phản ánh đúng absolute PPP nên sau một giai đoạn nếu relative PPP đúng thì absolute PPP cũng đúng. Giới kinh tế học hầu như chỉ quan tâm đến relative PPP, trừ một số nhỏ mà tôi sẽ trình bày dưới đây.

(#) Chữ "absolute" trong toán học chỉ giá trị tuyệt đối, nghĩa là giá trị không tính đến dấu. Tôi không hiểu tại sao trong finance và thỉnh thoảng trong kinh tế học (như trong trường hợp ý thuyết PPP này) chữ "absolute" lại được dùng thay cho "level" để phân biệt với "growth rate".


3.
Cuối thập kỷ 1960 một số nhà kinh tế ở University of Pennsylvania, cái nôi của hệ thống tài khoản quốc gia SNA sau này, nảy ra ý tưởng so sánh GDP (thời đó phổ biến là GNP) của các nước với nhau. Vì GDP của mỗi nước được thống kê bằng đồng nội tệ của mình, muốn so sánh phải chuyển đổi về một đồng tiền chung. Vấn đề là nếu tỷ giá thị trường tuân thủ theo absolute PPP thì việc chuyển đổi mới có ý nghĩa, bằng không một chiếc xe hơi ở nước này khi định giá bằng đồng tiền khác sẽ có thể nhiều hơn hoặc ít hơn một chiếc xe hơi tương đương ở nước được so sánh. Trong ví dụ xe hơi đầu tiên khi VN chuyển đổi một chiếc xe hơi sản xuất trong nước giá 1 tỷ VND sang USD với tỷ giá 21000 VND/USD, chiếc xe đó sẽ chỉ bằng 0.95 một chiếc xe sản xuất ở Mỹ. Như vậy khi tỷ giá thị trường không phản ánh được sức mua tương đương cần phải xác định một loại tỷ giá cho mục đích chuyển đổi GDP để không bị tình trạng so sánh cam với táo. Tỷ giá hiệu chỉnh này được gọi là tỷ giá PPP còn nghiên cứu ban đầu của UPenn đó được UN tiếp quản và phát triển gọi là International Comparison Program (ICP). ICP sau này được chia cho OECD và WB quản lý mà nhiệm vụ chính là tính tỷ giá PPP cho từng quốc gia để đảm bảo việc so sánh GDP giữa các nước có ý nghĩa.

Nếu nền kinh tế chỉ có một loại hàng hoá duy nhất thì việc tính tỷ giá PPP quá đơn giản. Trong ví dụ xe hơi bên trên tỷ giá thị trường là 21,000 còn tỷ giá PPP là 20,000.  Tạp chí The Economist đã tính "tỷ giá PPP" dựa vào một loại hàng hoá duy nhất là chiếc bánh Big Mac của McDonald's cho các nước thành viên của BMI. Với VN tỷ giá PPP theo BMI là 12,975 VND/USD đảm bảo sức mua bánh Big Mac ở VN và Mỹ như nhau. Như vậy với tỷ giá thị trường hiện tại xấp xỉ 21,000 VND đang bị undervalued tính theo sức mua Big Mac. Tất nhiên không nền kinh tế nào đơn giản như vậy mà thường phải có hàng triệu mặt hàng khác nhau, tỷ giá PPP phải đảm bảo tính chất ngang bằng sức mua cho một rổ các loại hàng hoá đó. Phức tạp hơn một chiếc xe hơi sản xuất ở VN dù có thể cùng hiệu Toyota nhưng chắc chắn sẽ khác một chiếc Toyota ở Mỹ về nhiều mặt nên dù chỉ cần tính tỷ giá PPP cho xe hơi cũng phải cân nhắc và hiệu chỉnh nhiều thứ. Chưa kể có những loại hàng hoá dịch vụ ở Mỹ có mà VN không có hoặc ngược lại, hoặc những loại hàng hoá không vận chuyển được như bất động sản. Bởi vậy việc tính toán tỷ giá PPP vô cùng phức tạp và tốn kém, bản thân UN, OECD và WB cũng chỉ tổ chức khảo sát và ước tính tỷ giá PPP cho các nước vài năm một lần. Tỷ giá PPP cho dù được tính toán cẩn thận đến đâu cũng không thể chính xác và hầu như chỉ để so sánh GDP giữa các nước.

Năm 2012 GDP đầu người của VN do World Bank công bố nếu tính theo tỷ giá thị trường VNDUSD là 1750 USD, còn tính theo tỷ giá PPP của chương trình ICP là "3787 international dollar" hay "3787 dollar at PPP". Như vậy tỷ giá PPP chỉ bằng 46% tỷ giá thị trường năm 2012, nghĩa là khoảng 9730 VND/dollar at PPP. Cùng năm đó GDP đầu người của Mỹ là 51,749 và Cambodia là 2454 international dollar, như vậy một người VN có sức mua bằng 7.3% một người Mỹ đồng thời bằng 154.3% một người Cambodia (nếu so sánh theo tỷ giá thị trường thì 2 con số này lần lượt là 3.4% và 185.9%). Như đã nói bên trên tỷ giá PPP chỉ dùng để so sánh GDP/sức mua giữa các nước chứ nếu nói VND undervalued vì số 9730 nhỏ hơn số 21,000 sẽ không chính xác. Tuy nhiên vì international dollar luôn được qui định bằng với USD, nghĩa là GDP của Mỹ tính theo tỷ giá PPP luốn bằng với GDP tính theo "tỷ giá thị trường" nên con số 9787 nói trên có thể hiểu theo nghĩa là tỷ giá VNDUSD tính theo sức mua GDP (do chương trình ICP tính toán, tương tự như BMI tính theo sức mua Big Mac do The Economist tính toán).

Bên cạnh hai loại tỷ giá này WB còn tính theo một loại tỷ giá thứ ba áp dụng lý thuyết relative PPP gọi là "dollar by Atlas method". Thực tế đây là một cách làm tắt, dễ hơn và rẻ hơn so với absolute PPP của chương trình ICP. Phương pháp này tính tỷ giá Atlas để chuyển đổi GNI từ một đồng nội tệ sang dollar bằng cách lấy trung bình tỷ giá thị trường của 3 năm, trong đó 2 năm đầu được hiệu chỉnh chênh lệch lạm phát như theo relative PPP. Hiện tại WB thống kê và công bố GNI theo Atlat method chứ không công bố GDP. Năm 2012 GNI đầu người của VN sử dụng tỷ giá Atlas là 1550 trong khi tính theo tỷ giá PPP là 3650. Lưu ý tất cả các con số trên đây đều là nominal, nghĩa là không loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. GDP/GNI tính theo tỷ giá thị trường, Atlas, hay PPP đều có thể tính theo giá cố định của một năm gốc nào đó (real), tôi sẽ không đi sâu thêm về vấn đề này ở đây.


4.
Quay lại BMI và giá một chiếc Big Mac ở SG khi qui đổi sang USD. Tôi đoán không ít người đã bất ngờ khi The Economist cho biết VND đang undervalued dựa vào cách tính BMI của họ. Từ trước tới nay có không ít người cho rằng VND đã bị overvalued quá nhiều dẫn đến hàng hoá VN bị mất dần sức cạnh tranh, cả ở trong nước lẫn khi xuất khẩu. Bản thân tôi đã không dưới một lần khuyến nghị cần phải phá giá VND, nhiều chuyên gia khác cũng có quan điểm như vậy (cũng có những người có ý kiến ngược lại). Vậy có phải phe ủng hộ phá giá đã sai? Tất nhiên lập luận rằng VND đang bị undervalued dựa vào absolute PPP và chỉ một mặt hàng duy nhất mới hiện diên ở VN được vài ngày thì chưa chắc đã chính xác. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Ở VN mỗi khi một vị quan chức nào đó nói giá điện hay giá xăng ở VN tính ra USD vẫn còn rẻ hơn ở nhiều nước trong khu vực người dân ngay lập tức lập luận rằng nhưng thu nhập của họ gấp mấy lần của ta. Các nhà kinh tế cũng lập luận y như vậy, mà cụ thể là những người xây dựng BMI của The Economist. Trên trang web chuyên đề BMI của tạp chí này có đồ thị sau:


Trục hoành của đồ thị là GDP đầu người (nominal) năm 2011 qui đổi ra USD theo tỷ giá thị trường (số liệu do IMF công bố, có hơi khác so với số liệu của WB), còn trục tung là giá một chiếc Big Mac qui đổi ra USD theo cùng tỷ giá. Mỗi điểm tròn trên đồ thị là một nước thành viên của BMI, điểm mầu xanh ở bên cực trái là VN (tôi vẽ thêm vì The Economist chưa cập nhật). Đường mầu đỏ là ước lượng tuyến tính (OLS) giữa 2 đại lượng này, nghĩa là với một mức GDP đầu người nhất định chúng ta có thể dự đoán được giá một cái Big Mac là bao nhiêu. Trong một bài báo năm 2011 tạp chí The Economist lập luận rằng đánh giá mức độ over/undervalued của một đồng tiền dựa vào BMI ít nhất phải hiệu chỉnh cho mức độ chênh lệch GDP đầu người. Cụ thể là không nên so sánh giá một cái Big Mac ở VN là 2.84 USD với một cái ở Mỹ giá 4.62 USD để kết luận VND đang bị undervalued. Chính xác hơn phải so sánh giá 2.84 với mức giá trên đường mầu đỏ có vị trí trục hoành bằng với GDP đầu người của VN (gọi là fitted value hoặc fair value). Ước lượng của tôi sử dụng số liệu GDP đầu người năm 2012 do IMF công bố fitted value cho Big Mac ở VN là 2.84 USD, nghĩa là tỷ giá thị trường VNDUSD gần như chính xác với tỷ giá absolute PPP tính theo BMI. Không rõ Nguyễn Bảo Hoàng có dùng công thức này để tính giá cho Big Mac ở SG hay không.

Như vậy sau khi hiệu chỉnh BMI cho GDP theo đầu người, VND gần như đang ở mức fair value (VN nằm trên đường mầu đỏ). Vậy có cần/nên phá giá VND nữa hay không? Như đã nói bên trên không ai dựa vào BMI để ra quyết định về chính sách tiền tệ/tỷ giá. Nhưng ngay cả nếu chỉ nhìn vào đồ thị này tôi vẫn muốn thấy VN nằm bên dưới chứ không phải bên trên đường mầu đỏ. Điểm có khoảng cách xa đường mầu đỏ nhất ở phía trên là Brazil, còn phía dưới là Hong Kong/Japan. Không biết bạn thế nào chứ tôi prefer Hong Kong/Japan hơn là Brazil (về sức cạnh tranh). Bởi vậy quan điểm của tôi vẫn là nên phá giá VND để tính theo BMI đồng nội tệ của VN undervalued từ 30 đến 40% giống như 2 nước châu Á nói trên.



Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Deficit ceiling


Hôm trước tôi có comment trên G+ của anh Nguyễn Vạn Phú về vấn đề chính phủ đang xin QH tăng tỷ lệ deficit từ 4.8% GDP lên 5.3%. Hôm nay đọc được bài này của TBKTSG có khá nhiều số liệu nên tôi tính thử xem tình trạng ngân sách năm nay của VN ra sao.

Theo bài báo trong 9 tháng đầu năm tổng thu ngân sách nhà nước là 543,835 tỷ đồng, bằng 66.6% so với kế hoạch. Có nghĩa là kế hoạch thu ngân sách năm 2013 là 543,835/0.666=816,569 tỷ. Trong khi đó bội chi ngân sách(*) đã là 140,755 tỷ, bằng 87% so với kế hoạch. Như vậy kế hoạch bội chi là 140,755/0.87=161,787 tỷ. Con số này còn tương đương với dự toán bội chi năm 2013 bằng 4.8% GDP, nghĩa là chính phủ đã dự tính (nominal) GDP năm nay là 161,787/0.048=3,370,570 tỷ. Nếu QH đồng ý cho tăng bội chi lên 5.3%, nghĩa là 0.5 điểm phần trăm, thì số tiền bội chi tăng thêm sẽ là 3,370,570*0.005=16,853 tỷ. Tổng số tiền bội chi từ nay đến cuối năm theo kế hoạch tăng thêm này sẽ là 161,787*0.13+16,853=37,885 tỷ, trong đó 21,032 tỷ đã được duyệt từ đầu năm.

Quan điểm của tôi là nếu chính phủ vẫn chi tiêu trong giới hạn tổng chi ngân sách QH đã duyệt đầu năm và bội chi tăng vì tổng thu giảm bất khả kháng thì QH không nên làm khó dễ chính phủ. Ngược lại nếu bội chi tăng vì chính phủ chi tiêu vượt quá dự toán đã được QH duyệt đầu năm thì QH phải kiên quyết không cho tăng bội chi nữa. Vậy tình hình tài khóa của VN đến cuối tháng 9/2013 ra sao?

Theo bài báo nói trên những năm gần đây tổng thu ngân sách trong 9 tháng đầu năm thường vào khoảng 80%, so với 66.6% năm nay. Như vậy trong 9 tháng đầu năm nay tổng thu bị hụt so với thông lệ/kế hoạch là 13.4%. Nếu trong 3 tháng còn lại ngân sách thu được 20% kế hoạch như những năm trước thì vẫn sẽ hụt 13.4%, tương đương 109,420 tỷ nếu (nominal) GDP bằng với dự báo đầu năm. Số tiền này lớn hơn nhiều so với con số xin thêm 16,853 tỷ (0.5% GDP) tính bên trên, nghĩa là trên thực tế chính phủ sẽ phải cắt giảm tổng chi đã được duyệt 109,420-16,853=92,567 tỷ, bằng 2.7% GDP hay 11% dự toán tổng chi đầu năm. Nếu đây là tình hình tài khóa thực tế thì QH nên thông cảm duyệt cho chính phủ tăng thêm bội chi 0.5% GDP vì chính phủ đã tự nguyện cắt 2.7% GDP phía chi.

Nếu trong 3 tháng cuối năm chính phủ tăng thu ngân sách để đạt được mức thu bằng 30% kế hoạch so với 20% của các năm trước, tổng thu vẫn bị hụt 3.4% kế hoạch tương đương 27,763 tỷ. Nghĩa là ngay cả trong phương án QH duyệt cho tăng bội chi lên 5.3% GDP thì chính phủ vẫn phải cắt tổng chi 27,763-16,853=10,911 tỷ (0.3% GDP). Không kể việc tăng gấp rưỡi mức thu trong 3 tháng cuối năm như vậy không dễ, điều này sẽ có tác hại không nhỏ vào nền kinh tế vì chính phủ sẽ phải tìm mọi cách tận thu các nguồn có thể (tăng giá xăng dầu, điện, nước, tăng các loại thuế, tăng sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu, than, khoáng sản, tăng bán đất và các tài sản công khác...). Việc vừa tăng thu vừa giảm chi như vậy sẽ tiếp tục làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP và ảnh hưởng đến nguồn thu và ngân sách năm sau.

Đến đây một câu hỏi quan trọng cần đặt ra là tại sao thu ngân sách 9 tháng đầu năm nay lại bị hụt nghiêm trọng như vậy (chỉ đạt 66.6% so với thông lệ/kế hoạch là 80%)? Ngoài lý do giá dầu thô và nhiều loại khoáng sản giảm, nguồn thu từ XNK giảm, từ tiền bán đất và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giảm..., có lẽ quan trọng nhất là Nominal GDP không tăng như dự kiến. Tăng trưởng của NGDP bằng tăng trưởng real GDP cộng với tốc độ lạm phát (chính xác hơn là tốc độ tăng GDP deflator). Như vậy nếu đầu năm dự kiến lạm phát khoảng 12% nhưng trên thực tế chỉ là 5% thì phần chênh lệch lạm phát này đã làm giảm thu ngân sách khoảng 57,160 tỷ (=3,370,570*0.07*0.24), tương đương hơn 1/2 số hụt thu 109,420 tính bên trên. Ngược lại nếu giả sử toàn bộ số hụt thu đó là do NGDP thực tế thấp hơn dự kiến đầu năm thì tỷ lệ thấp hơn sẽ là 109,420/0.24/3,370,570=13.4%. Con số này chính là tỷ lệ hụt thu ngân sách tính bên trên.

Như vậy nếu tỷ lệ hụt thu ngân sách (hay tỷ lệ hụt NGDP so với dự kiến) là 13.4% và giả sử có 7% do lạm phát giảm thì vẫn còn 6.4% phải phân bố vào hụt tăng trưởng real GDP và hụt các nguồn thu khác (dầu thô, bán đất...). Bao nhiêu điểm phần trăm của con số này sẽ "ăn" vào tốc độ tăng trưởng real GDP dự kiến (5.5%)? Tất nhiên tôi không thể biết và cũng không muốn đoán mò, có quá nhiều giả định trong các tính toán ở đây(**). Tuy nhiên trong phương án xấu nhất real GDP có thể có tăng trưởng âm, nghĩa là nền kinh tế rơi vào recession trong năm 2013(***). Nếu GSO năm nay thống kê real GDP tăng trên 5%, tôi rất muốn biết lý do nào thu ngân sách bị hụt nhiều như vậy.


(*): Tôi nghĩ chính phủ và báo chí VN nên chuyển sang sử dụng thuật ngữ "thâm hụt ngân sách" (budget deficit) như thông lệ quốc tế thay vì dùng "bội chi ngân sách".
(**): Ngoài các giả định có thể không chính xác, các tính toán của tôi sử dụng số liệu từ một bài báo của TBKTSG. Mặc dù đây là một tờ báo rất có chất lượng và nhà báo Tư Giang rất có uy tín, tôi không thể khẳng định nguồn số liệu trong bài báo này chính xác 100%.
(***): Xin các bạn, nhất là các bạn "lề trái", lưu ý đây chỉ là khả năng xấu nhất chứ không phải tôi dự báo kinh tế VN bị recession trong năm 2013.


NEER/REER Update

Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/...