Hiển thị các bài đăng có nhãn Law. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Law. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Vietnam vs China



[Đây là bài cuối cùng trong series về BĐ-HS-TS của blog kinhtetaichinh. Tôi tạm ngưng chủ đề này không phải vì TQ đã rút giàn khoan HD-981 hay tôi không còn quan tâm đến nó nữa, đơn giản vì tôi đã tới giới hạn của những kiến thức cóp nhặt được từ một số sách vở/tài liệu mà tôi đọc trong 3 tháng qua. Là một kẻ ngoại đạo (về lịch sử, chính trị, công pháp quốc tế) tôi không có ý định trở thành hoặc được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này, nhưng vẫn hi vọng những gì tôi viết ở đây giúp ích cho ai đó. Có điều các bạn đã được cảnh báo: Read at your own risk!]



Kiện TQ thế nào?

Khi TQ kéo giàn khoan HD-981 vào Biển Đông đầu tháng 5/2014, giống như nhiều người Việt tôi rất "to mồm" kêu gào VN phải kiện ngay TQ ra một toà án quốc tế. Thú thực cho đến thời điểm đó tôi vẫn chưa hiểu rõ kiện cái gì và kiện thế nào, chỉ đơn giản nghĩ rằng chính nghĩa thuộc về VN nên chắc chắn cứ "kiện" là VN sẽ thắng. Kiến thức của tôi về các tranh chấp BĐ-HS-TS gần như chỉ gói gọn trong những gì phía VN đã tuyên truyền chính thức mấy chục năm qua, cộng thêm một vài thông tin lẻ tẻ đọc được trên mạng về công hàm Phạm Văn Đồng 1958 và hai cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 và Trường Sa 1988 mà chính phủ VN đã cố tình che giấu cho đến tận gần đây.

Bước ngoặt thúc đẩy tôi quyết tâm tìm hiểu kỹ hơn về chủ đề này là vụ CNN phỏng vấn Sam Bateman ngày 11/6 sau khi TQ "tố" VN ra LHQ. Trong cuộc phỏng vấn đó ông tiến sỹ tại viện RSIS (NTU - Singapore) này khẳng định đa số học giả quốc tế cho rằng claim chủ quyền của TQ về HS-TS mạnh hơn của VN. Nóng mũi trước phát biểu đó, trong gần 3 tháng qua tôi bỏ công tìm đọc hầu hết các tác giả mà Sam Bateman nhắc đến và một số học giả quốc tế có uy tín trong lĩnh vực này, đáng kể nhất là Marwyn Samuels, Stein Tonnesson, Greg Austin, Robert Beckman, Ang Chen Guan và một số tác giả khác (cả một số tác giả VN và TQ).

Dù là một người ngoại đạo và chỉ có điều kiện đọc tài liệu rất tản mát, đến thời điểm này có thể nói hiểu biết của tôi về việc "kiện TQ ra một toà án quốc tế" đã rõ ràng hơn nhiều so với 3 tháng trước. Quả thực kiện thế nào, kiện cái gì, và kiện ở đâu không hề đơn giản. Trong entry này tôi sẽ tóm tắt lại những gì tôi đã tìm hiểu về chủ đề này cho những ai quan tâm, nhưng tất nhiên tôi vẫn khuyến cáo các bạn muốn biết tường tận nên tham khảo ý kiến của các luật gia/luật sư chuyên nghiệp về công pháp quốc tế.


Kiện ra PCA theo UNCLOS

Bài trả lời phỏng vấn hãng Reuters của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 22/5 đã làm nức lòng nhiều người Việt khi lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp tuyên bố VN có thể sẽ sử dụng "legal action" chống lại TQ. Sau TT Dũng, người phát ngôn BNG và một số quan chức khác cũng nhắc đến biện pháp này, thậm chí có người đã nói VN chỉ còn cân nhắc thời điểm khởi kiện. Việc BNG ký "Host Country Agreement" với PCA, toà trọng tài mà Philippines đang kiện TQ, càng làm nhiều người hi vọng chính phủ VN cuối cùng cũng dám đối đầu với ông anh Cộng sản phương bắc. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, hơn 1 tháng sau khi HD-981 đã rút đi, VN vẫn chưa có động thái gì trên mặt trận pháp lý và chuyến thăm TQ của ủy viên BCT Lê Hồng Anh càng làm nhiều người thất vọng.

Tôi sẽ không đi vào phân tích tình hình quan hệ giữa VN và TQ, điều này nằm ngoài khả năng của tôi. Tuy nhiên tôi cho rằng cho dù quan hệ này nồng ấm trở lại cũng không hẳn VN sẽ không còn khả năng thực hiện một "legal action" liên quan đến Biển Đông. Ở đây tôi cho rằng chữ "legal action" mà TT Dũng phát biểu có ý nghĩa không chỉ một vụ kiện ra tòa mà có thể còn bao hàm những biện pháp pháp lý khác ít đối đầu với TQ hơn. Tất nhiên tôi prefer phương án kiện TQ sòng phẳng ra PCA như Philippines đang làm, mà đáng ra VN nên cùng join với Philippines từ đầu năm 2013. Như tôi đã phân tích trong entry Philippines vs China, phe khởi kiện trong vụ này có thể sẽ thất bại vì PCA không công nhận jurisdiction do TQ đã opt-out theo điều 298 UNCLOS. Tuy nhiên nếu VN khởi kiện lúc đó hoặc nếu bây giờ VN nộp hồ sơ kiện sẽ có một số lợi ích sau.

Thứ nhất, nếu VN kiện TQ ra PCA theo tinh thần tương tự như Philippines, hoặc thậm chí có thể đề nghị Philippines sửa đổi đơn kiện năm 2013 để đưa thêm VN vào bên nguyên cáo, thì khả năng lớn là TQ sẽ tiếp tục không theo kiện như đã làm với Philippines. Điều này sẽ giúp VN tránh phải giải trình trước tòa về những bằng chứng "khó ăn khó nói" như công hàm Phạm Văn Đồng hay lời phát biểu của thứ trưởng Ung Văn Khiêm. Tất nhiên TQ sẽ vẫn "lu loa" những bằng chứng này ngoài tòa như đã làm khi VN phản đối vụ giàn khoan HD-981, nhưng điều đó không ảnh hưởng/liên quan đến các tranh tụng trong tòa. Điều này rất quan trọng vì tôi nghĩ một trong những lý do VN vẫn lưỡng lự kiện và nhún nhường TQ là do ĐCS VN lo ngại một tòa án quốc tế xử VN thua vì công hàm PVĐ hay những bằng chứng bất lợi khác mà họ mắc phải trong quá khứ. Việc tòa không xét đến những bằng chứng đó sẽ giúp cho ĐCS tránh được lời buộc tội "bán nước" mà lề trái đã khăng khăng bấy lâu nay cho dù kết quả thắng thua ra sao.

Thứ hai, vẫn biết dù VN thắng kiện thì TQ sẽ không bao giờ chấp nhận và tuân thủ phán quyết của tòa, nhưng việc tự nguyện đem tranh chấp ra phân xử ở một tòa án quốc tế là một hành động văn minh và chắc chắn sẽ được dư luận quốc tế ủng hộ. Dù thiên vị TQ thế nào đi nữa những học giả như Sam Bateman hay Stefan Talmon cũng không thể biện hộ cho tính chính đáng của các claim của TQ trên Biển Đông được nữa sau khi một tòa án quốc tế ra phán quyết chính thức. Một phần dư luận nội bộ TQ sẽ thức tỉnh hiểu rằng những gì chính quyền của họ tuyên truyền không phải là sự thật. Tôi tin rằng một phán quyết có lợi cho VN sẽ làm TQ chùn bước trong những kế hoạch leo thang sắp tới, giàn khoan HD-981 sẽ khó có thể được kéo vào EEZ của VN một cách ngang nhiên như vừa qua, một vùng cấm bay (ADIZ) mà TQ có thể đưa ra trong tương lai trên Biển Đông sẽ vấp phải phản kháng quốc tế mạnh mẽ hơn.

Thứ ba, như đã phân tích trong entry trước, có một khả năng Philippines và TQ sẽ thỏa thuận ngoài tòa trước khi PCA có phán quyết cuối cùng, VN sẽ "nhỡ tầu" nếu điều này xảy ra. Việc tham gia vụ kiện, một mình hay chung tên với Philippines, sẽ giúp VN trong các cuộc đàm phán ngoài tòa với TQ. Mặc dù tôi tin VN đã và đang sử dụng khả năng kiện TQ như một quân bài (bargaining chip) trong các cuộc đàm phán, nếu thay quân bài đó bằng việc đi kiện rồi ra điều kiện cho TQ phải đàm phán và nhượng bộ thì mới rút đơn kiện sẽ là strategy mạnh mẽ hơn nhiều. Mà không chỉ trong các cuộc đàm phán song phương, đem vụ kiện ra "mặc cả" trong các đàm phán đa phương như COC sắp tới hay trong các diễn đàn quốc tế như ASEAN+3, Shangrila... sẽ giúp củng cố vị trí/quan điểm của VN và các "đồng minh" như Philippines.

Cuối cùng là lý do đối nội. Chỉ mới rào đón khả năng "legal action" mà rất nhiều người đã tung hô TT Dũng, thậm chí đã có người kêu gọi đưa ông lên làm tổng thống. Nếu ông thực sự khởi kiện tôi tin đa số dân VN sẽ ủng hộ ông bất chấp các phe cánh chính trị khác trong ĐCS chống lại, và dù kết cục thế nào cái tên Nguyễn Tấn Dũng sẽ đi vào lịch sử một cách rất khác với cái tên Phạm Văn Đồng. Nếu ĐCS đồng lòng khởi kiện, những cáo buộc "bán nước" của lề trái sẽ không còn cơ sở. Nhưng quan trọng hơn một vụ kiện như vậy sẽ khẳng định quyết tâm "thoát Trung" mà đa số dân VN mơ ước. Tôi cho rằng có một số không nhỏ dân chúng trong nước sẵn sàng chấp nhận chế độ độc đảng nếu VN thực sự thoát Trung. Ngược lại nếu ĐCS quay đầu về công thức Thành Đô thì vị trí của họ sẽ lung lay như nhận định mới đây của The Economist: "... the Communists in Hanoi that get burned."

Trên đây là phương án kiện tốt nhất mà tôi mong muốn VN tiến hành. Nhưng đó không phải là duy nhất và khả thi nhất, "legal action" trong trường hợp này còn bao hàm khả năng VN đưa vụ việc ra ITLOS mà tôi sẽ phân tích trong phần tiếp theo.


Yêu cầu ITLOS cho Advisory Opinion

Một số người (trong đó có tôi) cho rằng nên tách việc kiện TQ xâm phạm EEZ của VN với vấn đề chủ quyền trên HS-TS. Bởi lẽ bất kể bên nào có chủ quyền trên đảo Tri Tôn thuộc HS, nếu đảo này không có EEZ thì theo UNCLOS vị trí giàn khoan HD-981 TQ kéo vào Biển Đông đầu tháng 5 vừa rồi rõ ràng nằm trong phạm vi 200 hải lý EEZ của VN. Phía TQ tuyên bố vị trí giàn khoan nằm trong contiguous zone của đảo Tri Tôn mà họ claim thuộc về họ. Có thể thấy TQ đã cố tình tránh không đề cập đến khái niệm EEZ vì bản thân họ cũng thấy đảo này quá nhỏ và không đủ điều kiện để có EEZ riêng. Một câu hỏi đặt ra là tại sao TQ không để HD-981 nằm trong vùng hải phận 12 hải lý của đảo Tri Tôn, như vậy TQ sẽ buộc chặt vấn đề lãnh hải với chủ quyền đảo và VN sẽ khó bề kiện TQ như Philippines đã làm.

Bỏ qua khả năng đây là một tính toán sai của TQ, tôi nghĩ vị trí giàn khoan nằm ngoài hải phận 12 hải lý của Tri Tôn là một phép thử không chỉ với VN mà còn với ITLOS và giới luật gia liên quan đến UNCLOS. Vấn đề là nếu TQ muốn test, liệu VN có dám tham gia hay không và VN phải làm gì? Câu trả lời đã được một số chuyên gia như Stein Tonnesson, Robert Beckman, Tạ Văn Tài khuyến nghị trước và sau vụ HD-981. VN cần hỏi ITLOS một cách chính thức (seek an advisory opinion) về cơ sở tuyên bố EEZ cho các đảo/bãi đá thuộc HS-TS. Đây không phải là "kiện" theo qui định UNCLOS nên sẽ tránh được các điều 287 và 298, TQ không bị "lôi ra tòa" nên về phương diện ngoại giao biện pháp này sẽ đỡ căng thẳng hơn. Theo Robert Beckman UNCLOS không có qui định nào về điều này nhưng bản thân ITLOS (Article 138, Rules of the Tribunal) cho rằng tòa này có jurisdiction để đưa ra advisory opinion.

Như có lần phân tích trước đây, VN đã từng "tham lam" claim EEZ cho tất cả các đảo thuộc HS-TS. Tuy nhiên sau khi công nhận UNCLOS năm 1994 và chính thức nộp bản đồ giới hạn thềm lục địa cho CLCS năm 2009, VN đã chính thức từ bỏ những claim trái với UNCLOS này. Ngược lại cho đến thời điểm này TQ vẫn lập lờ về vấn đề thềm lục địa, không khẳng định cũng không từ bỏ EEZ của các đảo trên Biển Đông mà họ claim hoặc đang chiếm đóng. Rất có thể TQ làm như vậy vì họ âm mưu độc chiếm toàn bộ Biển Đông trong đường lưỡi bò, nhưng cũng có thể TQ bị "há miệng mắc quai" vì đã claim đường lưỡi bò trước đây và bây giờ khó có thể rút lại mà không làm dân TQ nổi giận. Nếu vậy có thể một phán quyết của ITLOS bác bỏ EEZ của các đảo trên Biển Đông sẽ có lợi cho tất cả các bên kể cả TQ. Theo tôi đây là phương án "legal action" khả thi nhất mà VN có thể làm trong điều kiện chính trị ngoại giao hiện tại.


Legal Actions liên quan đến đánh bắt cá

Người VN không ai không căm phẫn khi tàu TQ đâm chìm hoặc phá hỏng các tàu đánh cá nhỏ của ngư dân VN. Nếu VN có bằng chứng những hành động này phía TQ thực hiện bên trong EEZ của mình và bên ngoài 12 hải lý quanh các đảo HS-TS mà TQ đang chiếm đóng thì VN có thể kiện việc này ra Hội đồng bảo an LHQ như một hành động xâm lăng (aggression) theo ngôn từ của Stein Tonnesson. Thậm chí nếu những hành động này gây thiệt hại nhân mạng VN có thể khởi kiện tại International Criminal Court về hành động thảm sát dân thường của TQ. Tương tự như vậy vụ TQ xả súng bắn các chiến sĩ công binh VN không có khả năng tự vệ trên đảo Gạc Ma 1988, mà theo James Zumwalt - một nhà ngoại giao Mỹ - là một vụ thảm sát (massacre) cũng có thể bị VN đem ra ICC kiện. Tuy nhiên lôi một nước láng giềng, mà lại là TQ, ra ICC kiện về tội xâm lăng hay thảm sát chắc chắn không khả thi trong hoàn cảnh hiện tại. Ở đây tôi xin đưa ra một giải pháp khác.

Theo Article 116 Part VII UNCLOS, tất cả các nước được quyền đánh bắt cá trên vùng biển quốc tế (High Sea), nghĩa là vùng biển nằm ngoài EEZ của các nước có bờ biển liên quan. Như vậy nếu tất cả các đảo thuộc HS-TS không có EEZ, một phần của Biển Đông sẽ được coi là High Sea. Phần đáy biển bên dưới High Sea gọi là The Area được UNCLOS qui định thuộc về toàn bộ nhân loại (Humanity). Tất cả tài nguyên dưới đáy biển (khoáng sản, dầu khí) trong The Area sẽ do một tổ chức quốc tế (International Seabed Authority) quản lý, còn việc đánh bắt hải sản (living resources) trong High Sea và The Area sẽ do các tổ chức đánh bắt hải sản khu vực (Reasonal Fisheries Management Organizations - RFMO) cấp phép và điều phối.

Hiện tại chưa có một RFMO nào cho khu vực Biển Đông. Như vậy legal action đầu tiên mà VN có thể tiến hành là yêu cầu TQ và các nước có liên quan, không chỉ các nước có bờ biển quay ra Biển Đông mà cả các nước có khả năng sẽ tiến hành đánh cá ở khu vực High Sea trên Biển Đông (Úc, Nhật, Hàn quốc, Đài Loan, Ấn Độ ...), tiến hành đàm phán lập ra một RFMO cho khu vực theo tinh thần UNCLOS. TQ vẫn thường rêu rao đề nghị các nước gác lại tranh chấp để cùng nhau khai thác tài nguyên, đề nghị thành lập RFMO này đúng theo tinh thần hợp tác đó nhưng sẽ làm khó cho TQ. Lý do là tháng 12/2013 chính quyền đảo Hải Nam đưa ra một qui định đánh cá bao trùm toàn bộ đường lưỡi bò mà Carl Thayer gọi là một bộ luật cướp biển nhà nước. Vùng biển mà Hải Nam sẽ quản lý bao trùm tất cả những vùng có thể coi là High Sea trên Biển Đông theo qui định UNCLOS. Nếu TQ chấp nhận ngồi vào đàm phán thành lập RFMO nghiễm nhiên qui định đánh cá của Hải Nam vô tác dụng và đường lưỡi bò coi như không có giá trị.

Do đó nhiều khả năng TQ sẽ không chịu tham gia thành lập RFMO, điều này sẽ là bằng chứng cho thấy TQ không hề muốn hợp tác theo luật lệ quốc tế. Nếu vậy legal action thứ hai VN có thể thực hiện là kiện bộ luật quản lý đánh cá của Hải Nam ra một tòa trọng tài đặc biệt (Special Arbitration) theo khoản 1(d) Điều 287 và Annex VIII. Đây là một cách lách Điều 298 vì theo qui định TQ chỉ được opt-out khỏi các tranh chấp liên quan đến ranh giới biển chứ không loại trừ các tranh chấp liên quan đến đánh cá. Một nội dung khác VN có thể đưa vào vụ kiện này (bên cạnh luật đánh cá của Hải Nam) là những vụ TQ bắt giữ tàu cá của ngư dân VN và yêu cầu tiền chuộc. Theo Robert Beckman điều 298 không áp dụng cho trường hợp này nên dù TQ có opt-out họ vẫn có nghĩa vụ phải ra tòa theo qui định UNCLOS nếu VN khởi kiện.


Binding Codes of Conducts

Legal action cuối cùng mà tôi nghĩ có thể khả thi là tiến hành đàm phán COC giữa các nước liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông, trong hoặc ngoài khuôn khổ của ASEAN. Trong thời gian gần đây chính TQ đã tuyên bố muốn khởi động đàm phán COC, VN nên chính thức đưa ra một kế hoạch đàm phán cụ thể và yêu cầu tất cả các nước liên quan không có hành động tạo căng thẳng trong quá trình đàm phán. TQ sẽ không có cớ gì để lẩn tránh đề nghị này nhưng nhiều khả năng sẽ đưa đường lưỡi bò ra để gây khó dễ. Đây sẽ là điểm khó nhằn cho VN và các nước liên quan, nếu chấp nhận đưa vấn đề đường lưỡi bò vào đàm phán thì vô hình chung chấp nhận vùng biển bên trong đường lưỡi bò đang bị tranh chấp, một điều phi lý và bất công. Nhưng nếu không chấp nhận thì sẽ không xúc tiến đàm phán được và TQ sẽ không chịu công nhận các vùng EEZ chồng lấn của VN và các nước khác.

Tất nhiên vấn đề này sẽ dễ thở hơn nhiều nếu Philippines thắng trong vụ kiện tại PCA hiện tại hoặc VN đưa vấn đề đánh giá EEZ các đảo HS-TS ra ITLOS. Chưa kể đó là các con bài đàm phán, khi đối mặt với các vụ kiện/legal actions TQ sẽ có incentive ký COC sớm với các nước liên quan trước khi bị một phiên tòa quốc tế ra phán quyết bất lợi cho mình vì như vậy sẽ mất thế khi đàm phán COC. Cá nhân tôi cho rằng đạt được một COC công bằng và theo tinh thần UNCLOS sẽ là một thắng lợi cho VN, những legal actions tôi liệt kê bên trên chủ yếu để giúp đạt được mục tiêu này. Chúng ta cần phải chấp nhận một thực tế là TQ sẽ không chịu nhả HS-TS với bất cứ giá nào. Kiện TQ ra ICJ về chủ quyền HS-TS vô cùng khó khăn và chưa chắc đã đạt được kết quả mong đợi. Trong khi ranh giới biển và quyền khai thác tài nguyên trong EEZ của mình đã được qui định cụ thể trong UNCLOS, chủ quyền đảo phải phân xử theo common laws không có gì trói buộc với TQ. Khác với 3 tháng trước đây, quan điểm hiện tại của tôi giống của GS Phạm Quang Tuấn: VN nên gác lại vấn đề chủ quyền HS-TS.

Nói vậy không có nghĩa VN từ bỏ vĩnh viễn chủ quyền ở hai quần đảo này. Việc gác lại vấn đề chủ quyền để ký COC theo tinh thần UNCLOS sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy một nước VN có hành xử văn minh, biết tuân thủ luật pháp quốc tế và sẵn sàng hợp tác vì hòa bình và lợi ích của các nước trong khu vực. Vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, nhưng chúng ta còn có những mục tiêu khác quan trọng không kém, vd đưa VN trở thành một quốc gia thịnh vượng và dân chủ. Mà chắc chắn chúng ta phải đạt được những điều đó trước khi hoàn thành giấc mơ "Sang năm tới Hoàng Sa" của mọi người dân VN.


02/09/2014

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Philippines vs China



Có lẽ một trong những lý do quan trọng đến giờ này VN vẫn không/chưa "kiện"[1] TQ ra một tòa án quốc tế là VN đang chờ kết quả vụ kiện của Philippines. Rất có thể lãnh đạo VN đang hi vọng Philippines sẽ thắng vụ kiện này để VN có thể "ăn theo" mà không phải trực tiếp đối đầu với "ông anh cộng sản" của mình. Quả thực vụ kiện giữa Philippines và TQ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ván cờ trên Biển Đông, không chỉ trên mặt trận pháp lý giữa hai nước này. Rất tiếc thông tin chi tiết về vụ kiện ít được phổ biến ở VN[2] và ngay cả ở Philippines báo chí cũng đưa tin không chính xác. Tuy nhiên vụ kiện này được khá nhiều luật gia quốc tế quan tâm và bình luận vì nó vừa là một case rất thú vị vừa liên quan đến một điểm nóng trên thế giới. Trong bài này tôi sẽ "múa rừu qua mắt các luật gia" tổng kết lại một số thông tin tôi cóp nhặt được về vụ kiện, chủ yếu từ các nguồn quốc tế, và đưa ra một số nhận định cá nhân về tác động của nó với cuộc đối đầu Việt-Trung trên BĐ.


Giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Trước khi nói về vụ kiện Philippines vs China (PvsC) cần nhắc lại một số qui định của UNCLOS về vấn đề giải quyết tranh chấp giữa các thành viên. Theo Article 287 (Section 2, Part XV) thành viên UNCLOS có 4 phương án giải quyết tranh chấp: (a) ITLOS (Annex VI), (b) ICJ, (c) tòa trọng tài theo Annex VII, (d) một tòa trọng tài đặc biệt theo Annex VIII (cho các tranh chấp liên quan đến đánh cá, môi trường, nghiên cứu khoa học, giao thông hàng hải)[3]. Sau khi phê chuẩn công ước, các thành viên có quyền chọn một (hoặc nhiều hơn) trong 4 phương án giải quyết tranh chấp nói trên. Nếu một thành viên chưa tuyên bố lựa chọn, hình thức trọng tài (phương án c) sẽ được áp dụng khi có tranh chấp phát sinh. Vì tất cả các nước liên quan đến tranh chấp BĐ-HS-TS chưa tuyên bố chọn phương án giải quyết tranh chấp nên phương án (c) là giải pháp duy nhất.

Liên quan đến việc giải quyết tranh chấp, điều khoản này của UNCLOS vừa rất chặt chẽ nhưng cũng vừa rất lỏng lẻo. Rất chặt vì nó qui định mọi tranh chấp liên quan đến UNCLOS đều buộc phải đem ra phân xử (compulsory settlement) theo một trong bốn phương án nói trên nếu hai bên không tự đàm phán được với nhau. Ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp không chịu đem ra phân xử tại tòa, bên còn lại vẫn có thể khởi kiện và tòa hoặc trọng tài vẫn có thể phán xử dù chỉ có một bên tham gia. Phán quyết của tòa hoặc trọng tài, bất kể cả hai bên tham gia hay chỉ có một bên kiện còn bên kia tẩy chay như vụ PvsC hiện tại, sẽ là phán quyết cuối cùng (final) và bắt buộc (binding). Nghĩa là sau khi tòa hoặc trọng tài đã đưa ra phán quyết các bên không thể kháng án và có nghĩa vụ phải thi hành để tuân thủ cam kết với UNCLOS[4].

Rất lỏng lẻo, hay nói chính xác hơn là UCLOS đã mở một cửa hậu cho các thành viên né các qui định chặt chẽ bên trên, vì theo Article 298 sau khi trở thành thành viên các nước có quyền tuyên bố miễn trừ (opt-out) các qui định bắt buộc trong Article 287 cho 3 loại tranh chấp: (a) liên quan đến phân chia ranh giới biển theo điều 15, 74, và 83, (b) liên quan đến cách hoạt động quân sự, tuần tra biển, (c) liên quan đến các phán quyết của Hội đồng Bảo an LHQ. Điều này có nghĩa là một thành viên không thể kiện một thành viên khác nếu tranh chấp rơi vào một trong 3 lĩnh vực nói trên và phía bị kiện đã tuyên bố opt-out trước đó. Trên thực tế rất nhiều nước đã opt-out, vd Australia, Canada, India, Denmark, France, Italy, Mexico, Norway, Korea, Russia, Spain, Thailand, UK. Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS nhưng nếu có nhiều khả năng cũng sẽ opt-out.

Tôi không rõ lịch sử của Article 298 này thế nào, có lẽ trong quá trình đàm phán UNCLOS các cường quốc biển đã đưa điều khoản này vào để tránh bị vướng vào kiện tụng sau này vì họ đã/đang tuyên bố chủ quyền với những vùng biển/đảo có khả năng bị tranh chấp cao (vd UK muốn bảo vệ claim với mỏm đá Rockall, Mỹ với quần đảo Howland and Baker, Đan mạch với đảo Greenland). Có thể thấy hầu hết các nước opt-out là những quốc gia lớn, có thực lực đủ để tranh chấp và bảo vệ biển đảo của mình, trong khi những nước opt-in là những nước nhỏ/yếu thế phải dựa vào các biện pháp pháp lý. Trường hợp TQ khá thú vị, nước này phê chuẩn UNCLOS năm 1996 nhưng phải 10 năm sau (2006) mới tuyên bố opt-out. Rất có thể trong 10 năm đầu TQ còn cân nhắc khả năng kiện Nhật về quần đảo Senkaku (nước nào đã opt-out sẽ mất quyền khởi kiện), nhưng sau này TQ đã đủ mạnh và cho rằng bảo đảm quyền lợi trên Biển Đông quan trọng hơn nên đã opt-out để tránh bị kiện tụng. Tôi đoán Philippines đã rất nuối tiếc không kiện TQ trước năm 2006.


Đánh giá của giới luật gia quốc tế về PvsC

Chính vì TQ đã opt-out theo Article 298, một số luật gia cho rằng Philippines không thể kiện. GS luật biển Myron Nordquist (UVA) cho rằng vụ kiện PvsC "bizarre" (kỳ quái) và "futile" (không đi đến đâu). GS StefanTalmon (Uni of Bonn) khẳng định PCA không có thẩm quyền phân xử (jurisdiction) vì đây là tranh chấp giới hạn biển theo các điều 15, 74, 83 mà TQ đã opt-out[5]. Tuy nhiên GS Julian Ku  (Hafstra University) không đồng ý với Nordquist và Talmon, ông đã chỉ ra rằng khi phê chuẩn UNCLOS TQ dù có opt-out hay không cũng đã chấp nhận Part XV và Annex VII. Mà theo Article 288(4) chỉ có hội đồng trọng tài mới có quyền đánh giá liệu những điểm Philippines khởi kiện có được miễn trừ vì tuyên bố opt-out của TQ hay không. Nói cách khác TQ, nếu tuân thủ đúng cam kết như một thành viên UNCLOS, buộc phải tham dự phiên tòa rồi cãi rằng tôi đã opt-out nên đề nghị tòa ngừng xử. Hành vi tẩy chay hoàn toàn phiên tòa như TQ đang làm là trái với qui định của UNCLOS[6].

GS Robert Beckman (NUS)[7] từ năm 2011 và GS Harry Roques (University of the Philippines) cũng lập luận tương tự. Một câu hỏi đặt ra là tại sao TQ lại hành xử như vây? GS Alex Calvo (European University) đưa ra một số lý do giải thích việc TQ không muốn ra tòa. Thứ nhất TQ luôn muốn đàm phán song phương để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, chiến thuật bẻ nắm đũa mà nhiều người đã chỉ ra. Khi ký DOC với ASEAN năm 2002 TQ đã đạt được mục tiêu đưa yêu cầu đàm phán song phương vào DOC. Do vậy họ cho rằng Philippines đã vi phạm DOC khi lôi vụ việc ra tòa. Thứ hai với lịch sử từng là một cường quốc rồi bị phương Tây "làm nhục", TQ không muốn phải tuân lệnh một tòa án phương Tây. Năm 1947 chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từng từ chối Pháp đem tranh chấp HS ra một trọng tài quốc tế cũng vì tâm lý đó. Thứ ba bản thân TQ hiểu đường 9 đoạn của mình không phù hợp với luật pháp quốc tế và nếu một phán quyết được đưa ra nhiều khả năng sẽ không có lợi cho TQ.

Tuy nhiên những lý do nói trên không đủ giải thích được tại sao TQ không tham gia vào vụ xử rồi biện luận tòa không có thẩm quyền (jurisdiction) vì mình đã opt-out. Julian Ku cho rằng mặc dù lập luận opt-out của TQ khá mạnh nhưng các cơ sở pháp lý khác của TQ, vd đường 9 đoạn, rất mập mờ. Bởi vậy theo tôi nếu TQ tham gia tranh tụng để rồi bác jurisdiction của tòa, TQ sẽ buộc phải làm rõ quan điểm và cơ sở pháp lý của những khái niệm tù mù mà họ vẫn rêu rao trước đó. Điều này có 2 điểm bất lợi cho TQ: có khá năng bị lật mặt là không phù hợp với luật pháp quốc tế và sẽ là tiền lệ để các nước khác đang có tranh chấp với TQ viện vào trong các vụ kiện sau này. Các lãnh đạo TQ cũng sợ rằng bản thân việc tham gia phiên tòa dù chỉ để cãi về jurisdiction cũng làm yếu đi vị thế của mình, ít nhất trong mắt dân TQ.

Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất là TQ sợ thua ngay từ vòng tranh biện về jurisdiction. Một điểm rất quan trọng mà Robert Beckman đã chỉ ra là chính hội đồng xét xử/hội đồng trọng tài là người quyết định về jurisdiction của họ (điều 288). Tất nhiên các trọng tài quốc tế phải công tâm nhưng họ sẽ không tránh khỏi có bias nhất định. Theo qui định của Annex VII, mỗi bên tranh chấp được quyền đề cử một trong tài của mình rồi hai bên thỏa thuận 3 trọng tài trung lập và một người trong số đó sẽ là chủ tịch hội đồng. Nếu 2 bên không thỏa thuận được thì chủ tịch ITLOS sẽ đứng ra chỉ định. Vấn đề là chủ tịch hiện tại của ITLOS là Shunji Yanai, một thẩm phán người Nhật. Trong bối cảnh tranh chấp Trung-Nhật cũng đang nóng, TQ có lý do để lo ngại thẩm phán Yanai sẽ chỉ định 3 trọng tài có lợi cho Philippines, vd thẩm phán Budislav Vukas, cựu phó chủ tịch ITLOS, một người có quan điểm chống lại EEZ cho các đảo/bãi đá. Vai trò của Shunji Yanai sẽ được phân tích thêm bên dưới.

Cũng theo Beckman phạm vi opt-out trong Article 298 khá hạn chế, các thành viên vẫn có thể tìm những nội dung không bị giới hạn bởi điều 298 để kiện và do vậy TQ có thể sẽ không cãi được vấn đề jurisdiction và phải theo kiện đến cùng dù đã opt-out[8]. Vậy chính xác Philippines, với một đội ngũ luật sư và chuyên gia luật quốc tế khá hùng hậu, đã kiện những nội dung nào và liệu những vấn đề đó có lách được điều 298 hay không? Theo LS Francis Jardeleza, đại diện của chính phủ Philippines tại tòa trọng tài xử vụ PvsC, có 4 nội dung được đưa ra kiện: (i) đường 9 đoạn của TQ không có cơ sở pháp lý do vậy vô hiệu (invalid), (ii) một số bãi đá ngầm trong hoặc ngoài EEZ của Philippines không nằm trên thềm lục địa của TQ, do vậy dù TQ đã xây dựng các công trình nhân tạo trên đó TQ cũng không thể clain chủ quyền biển theo UNCLOS, (iii) một số bãi đá khác cao hơn mặt biển khi thủy triều cao nhất cũng chỉ là "đá" theo Ariticle 121 chứ không phải "đảo" nên chỉ được chủ quyền 12 hải lý, (iv) TQ đã ngăn cản bất hợp pháp các hoạt động đánh bắt cá ở những vùng biển TQ không có chủ quyền.

Không kể GS Stefan Talmon đã nhắc đến bên trên, theo Phó GS Dapo Akande (Oxford) mặc dù Philippines đã cố tình tránh không đề cập đến các phạm vi chủ quyền trên biển của họ và của TQ để lách điều 298, những nôi dung này không ít thì nhiều sẽ đụng chạm đến ranh giới biển. Do vậy Philippines không dễ thuyết phục được hội đồng trọng tài họ có jurisdiction. TS Ian Forsyth (Jamestown Foundation) cũng cho rằng hội đồng trọng tài có thể từ bỏ jurisdiction nếu TQ chứng minh được quan điểm các nội dung Philippines nêu ra có liên quan đến ranh giới biển, nghĩa là bị điều phối bởi điền 298. Một điểm nữa mà phía TQ đã nêu ra là Philippines phải có nghĩa vụ giải quyết song phương với TQ theo DOC 2002, việc kiện ra tòa như vậy rõ ràng vi phạm cam kết trong DOC và do vậy tòa không có jurisdiction. Ngoài ra theo chính UNCLOS Philippines phải có nghĩa vụ tìm cách đàm phán, hòa giải với TQ trước khi đi kiện. Dù Philippines tuyên bố họ đã tìm cách đàm phán với TQ trong 17 năm liên tục mà không có kết quả, tòa cũng có thể phủ quyết jurisdiction trên cơ sở Philippines chưa tìm mọi cách đàm phán song phương hoặc TQ đã/đang đề nghị Philippines quay lại bàn đàm phán nhưng Philippines từ chối.

Khách quan mà nói lập luận của Philippines không hoàn toàn vững chắc và một phiên tòa công bằng rất có thể sẽ nghe theo biện hộ của phía TQ từ chối jurisdiction. Nhưng vấn đề là TQ đã tẩy chay phiên tòa ngay từ đầu nên trừ khi họ đổi ý hội đồng trọng tài sẽ chỉ nghe lập luận một phía từ Philippines. Tôi nghĩ rằng đây chính là tính toán của người Phi, họ tin chắc TQ sẽ không theo vụ kiện nên đã rất tự tin khởi kiện bất chấp sức ép/đe dọa của TQ. Đây cũng là nhận định của Sean Mirski (Lawfare) cho rằng với Philippines quan trọng là chọn thời điểm và nơi kiện chứ không hẳn là các lập luận pháp lý.


Tính toán của Philippines

Một nước cờ rất khôn ngoan của Philippines là đưa đường 9 đoạn vào hồ sơ kiện. Thoạt nhìn kiện đường 9 đoạn rõ ràng là một nội dung liên quan đến ranh giới biển, điều mà TQ đã opt-out. Tuy nhiên đường 9 đoạn là điểm yếu nhất về mặt pháp lý của TQ nên đưa nội dung này vào là một cách ngăn chặn TQ tham gia vụ kiện từ đầu. Cá nhân tôi cho rằng chính phủ TQ hiện "há miệng mắc quai" về vấn đề đường 9 đoạn. Họ biết cả về mặt lịch sử lẫn công pháp quốc tế TQ không thể biện hộ một cách thỏa đáng về claim này. Nhưng vì đã tuyên truyền quá nhiều trong quá khứ nên họ không dễ gì rút lại được mà không làm dân TQ nổi giận. Chiến thuật của các lãnh đạo TQ hiện nay là cứ đá quả bóng này cho những lớp lãnh đạo sau này giải quyết, trong khi cứ mù mờ về nó và tìm mọi cách tránh không phải giải thích gì với thế giới. Philippines hiểu điều này nên đã tin chắc TQ sẽ không theo kiện.

TQ đã bỏ qua 2 mốc đầu tiên của vụ xử: 21/2/2013 (chỉ định trọng tài của mình) và 27/8/2013 (ý kiến về dự thảo qui trình phân xử). Ngày 15/12/2014 tới sẽ là mốc TQ phải nộp phản hồi của mình (memorial) về các lập luận của Philippines (đã nộp ngày 30/3/2014). Sau ngày này tòa sẽ tổ chức tranh biện (hearing) bất kể TQ có gửi phản hồi hay không. Nếu TQ chỉ gửi một Note Verbale với các lập luận y như những lần trước phủ nhận vụ kiện thì coi như Philippines đã thắng bước đầu. Trong vài tháng sau đó tòa sẽ thảo luận và ra quyết định vấn đề jurisdiction. Mặc dù thuần túy về mặt pháp lý lập luận của phía Philippines (các nội dung kiện không bị miễn trừ bởi TQ đã opt-out) chưa đủ mạnh như đã trình bày bên trên, một số yếu tố bên ngoài có thể sẽ giúp họ.

Đầu tiên phải kể đến hình ảnh của TQ đã xấu đi đáng kể sau vụ đặt giàn khoan HD-981 trong EEZ của VN. Dù công tâm đến mấy các trọng tài cũng phải thấy mục đích và hậu quả của việc TQ opt-out theo điều 298 là để tạo thuận lợi cho chính sách bành trướng trên Biển Đông bất chấp pháp luật quốc tế. Thêm vào đó vấn đề đường 9 đoạn của TQ phi lý đến mức một học giả đã thốt lên nếu UNCLOS không loại bỏ được nó thì UNCLOS còn có thể làm được điều gì. Người này còn đi xa hơn cho rằng những nghị sĩ Mỹ có tư tưởng isolationism không muốn phê chuẩn UNCLOS sẽ viện dẫn sự bất lực của tòa án trong việc gạt bỏ đường 9 đoạn là lý do để Mỹ tiếp tục đứng ngoài hiệp ước này. UNCLOS đã từng bị Nga không đếm xỉa gì khi phớt lờ phán quyết của ITLOS trong vụ bắt giữ một chiếc tàu Greenpeace của Hà lan năm 2013, nếu lần này cũng bất lực với TQ thì công ước này thực sự vô tác dụng và có thể tan vỡ[9].

Một đe dọa khác đến quyền lực của UNCLOS cũng xuất phát từ một quan điểm của TQ, nói chính xác hơn từ một số học giả bênh TQ, có thể thấy từ cuộc tranh luận Mark Valencia vs Phạm Quang Tuấn (và sau đó thêm Dương Danh Huy tham gia). Trong lập luận này (phe) TQ cho rằng đường 9 đoạn và khái niệm historical rights của TQ có từ trước khi UNCLOS ra đời. Bởi vậy việc phê chuẩn UNCLOS của TQ phải hiểu là có bao hàm loại trừ những vấn đề lịch sử trước đó, cũng có nghĩa việc opt-out theo điều 298 giúp cho TQ giữ các historical rights này. GS Phạm Quang Tuấn chỉ ra một điểm cực kỳ nguy hiểm của lập luận này, không chỉ với VN và các nước có tranh chấp trên Biển Đông mà còn với toàn bộ quyền lực cũng như mục đích của UNCLOS. Nếu công ước này phải xếp sau những historical rights thì điều này sẽ mở ra một "Pandora's box" với vô số các cuộc tranh giành đất đai, hải đảo giữa các nước. Điều này chắc chắn sẽ phá vỡ hoàn toàn một trật tự "tương đối công bằng" mà UNCLOS đang cố gắng thiết lập.

Yếu tố khách quan cuối cùng là việc chủ tịch ITLOS hiện tại là người Nhật như đã đề cập bên trên. Một trong 4 trọng tài được Shunji Yanai chỉ định ban đầu là thẩm phán Pinto người Sri Lanka đã phải từ chức vì vợ ông là người Philippines cho thấy Yanai có thể đã nghiêng về phía Philippines khi chỉ định thẩm phán này. Người thay thế thẩm phán Pinto là cựu chủ tịch ITLOS Thomas Mensah (Ghana) và ba trọng tài còn lại từ Pháp, Ba Lan và Hà lan khó đánh giá mức độ trung lập nhưng tôi nghi ngờ Yanai chọn ai đó thân hoặc có quan điểm ủng hộ TQ. Còn trọng tài thứ năm do Philippines chỉ định, Rudiger Wolfrum người Đức, chắc sẽ ủng hộ phía Philippines. TQ có vẻ cũng thấy bị bất lợi nên đã ra sức PR, thậm chí đẩy Xue Hanqui, một thẩm phán người TQ tại ICJ, lên tiếng bảo vệ quan điểm opt-out của TQ dù đây là điều tối kị với một thẩm phán quốc tế. Nhà báo Chito Sta. Romana (Philippines) đã từng lo ngại thẩm phán TQ Gao Zhiguo tại ITLOS sẽ ảnh hưởng lên quyết định của các trọng tài khác, tôi nghĩ Shunji Yanai chắc chắn có tiếng nói và ảnh hưởng lớn hơn Gao Zhiguo hay Xue Hanqui.

Tóm lại về mặt tổng thể tôi cho rằng cán cân đang ngả về phía Philippines, cả trong cuộc chiến thuyết phục hội đồng trọng tài về jurisdiction lẫn những nội dung kiện sau đó. Tất nhiên đường còn dài và có thể có nhiều bất ngờ xảy ra. Một đe dọa cho Philippines (và cả VN) như GS Alex Calvo lo ngại là TQ có thể sẽ rút khỏi UNCLOS khi bị dồn vào chân tường và lu loa lên họ bị phương Tây xử ép. Đây có thể là một trong những kết cục của vụ kiện này mà tôi sẽ phân tích trong phần dưới đây.


Những kết cục có thể xảy ra

Phương án đầu tiên là Philippines thua ngay từ "vòng gửi xe", nghĩa là đầu năm 2015 tòa tuyên bố họ không có jurisdiction và giải tán. Hiển nhiên đây sẽ là một cú tát với Philippines và cả VN, đập tan mọi khả năng/ý chí kiện tụng chống lại TQ sau này bằng con đường pháp lý. TQ có thể sẽ thừa thắng xông lên hung hăng hơn trên Biển Đông đuổi dần các nước khác ra khỏi đường 9 đoạn. Nếu VN và Philippines bị đẩy vào bước đường cùng có thể một liên minh quân sự sẽ được thành lập với Nhật, Mỹ và có thể Ấn độ, Úc đúng đằng sau hoặc trực tiếp tham gia. Một cuộc chạy đua vũ trang sẽ diễn ra giữa các nước trong vùng với TQ. Rủi ro đụng độ quân sự tăng lên sẽ làm ngưng trệ các hoạt động kinh tế trên Biển Đông và ảnh hưởng các tuyến hàng hải trên đó. Đây sẽ là phương án lose-lose cho cả hai phía.

Tôi nghĩ TQ sẽ thừa đủ khôn ngoan để không đẩy các đối thủ của mình vào chân tường dù giành thắng lợi trong vụ kiện. Nhiều khả năng TQ nhân đà chiến thắng sẽ ép VN/Philippines và các nước ASEAN ký một COC với nhiều điều kiện có lợi hơn cho TQ. Song song với COC TQ sẽ ép VN và Philippines ký các hiệp định song phương phân chia EEZ rất có lợi cho họ và/hoặc các thỏa thuận khai thác chung mà TQ sẽ được phần lợi nhiều nhất. Tất nhiên TQ cũng thừa khôn ngoan không ép VN và Philippines từ bỏ claim chủ quyền với HS-TS mà sẽ yêu cầu giữ status quo sau khi đã đạt được các thỏa thuận kinh tế. Kịch bản này dễ xảy ra với VN hơn, Philippines với một thể chế dân chủ và ít ra còn dựa được vào Mỹ sẽ khó bị thuyết phục/đe dọa như VN.

Cũng tương tự như vậy nếu Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction nhưng thua toàn bộ các nội dung kiện thì TQ sẽ lấn tới như phương án đầu. Điểm khác biệt duy nhất là cửa kiện tụng không hoàn toàn đóng lại với cả Philippines lẫn VN, bởi vậy TQ sẽ khó ép hơn. Tuy nhiên, như đã phân tích bên trên, cả hai phương án này đều làm suy yếu uy tín và quyền lực của UNCLOS nên triển vọng kiện tụng sau này sẽ rất mù mờ, phương án lôi TQ ra kiện về chủ quyền HS-TS tại ICJ có khó khăn hơn nữa.

Phương án tiếp theo là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi thắng luôn toàn bộ hoặc một số nội dung kiện. Thừa thắng xông lên cả Philippines và VN sẽ lôi TQ ra ICJ kiện về chủ quyền HS-TS, đồng thời ASEAN sẽ đưa ra một phương án COC vô cùng bất lợi cho TQ. Như đã đề cập bên trên TQ có thể phản ứng rất cực đoan rút khỏi UNCLOS, DOC 2002, đồng thời gia tăng những hoạt động đe dọa chủ quyền VN và Philippines vì không còn bị rằng buộc gì. Phương án này cũng sẽ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang và khả năng hình thành liên minh quân sự đối đầu với TQ. Căng thẳng leo thang sẽ là một tình huống lose-lose như phương án đầu tiên.

Nên nhớ TQ là một nước lớn nên việc "giữ thể diện" quan trọng đối với họ. Tôi cho rằng phương án tốt nhất cho Philippines (và VN được "ăn theo") là Philippines chỉ thắng nội dung (i) về đường 9 đoạn. Trong đó tòa tuyên bố đường 9 đoạn không phù hợp với bất kỳ điều khoản nào của UNCLOS nên yêu cầu TQ không được sử dụng nó trong các cuộc đàm phán về ranh giới biển với các nước láng giềng. Điều này tưởng như đã vi phạm vào nội dung mà TQ đã opt-out nhưng thực ra không phải vậy. Tòa vẫn tôn trọng nội dung opt-out của TQ và yêu cầu các nước phải đàm phán song phương với TQ về vấn đề ranh giới biển, trong đó có phân chia EEZ trồng lấn. Nhưng tòa tuyên bố các claim hiện nay của TQ về historical rights không có giá trị nên đường 9 đoạn coi như không hiện hữu theo UNCLOS. Thực ra đây có thể là lối thoát cho các lãnh đạo TQ rũ bỏ được legacy của đường 9 đoạn mà không bị mang tiếng là đầu hàng ASEAN và phương Tây.

Phương án cuối cùng mà cũng rất có khả năng xảy ra là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi dừng lại. Nên nhớ Philippines chấp nhận bỏ tiền bạc, công sức, và nhất là căng thẳng với TQ khi khởi kiện hoàn toàn vì quyền lợi của họ chứ không phải vì VN hay các nước ASEAN khác. Bởi vậy nếu TQ nhượng bộ nhả bớt một số quyền lợi cho Philippines thì nước này có thể chấm dứt vụ kiện giữa chừng sau khi đạt được mục đích. TQ có thể sẽ "đi đêm" hoặc thỏa thuận công khai phân chia EEZ với Philippines, thậm chí ký hợp đồng cùng khai thác chung với phần ăn chia có lợi cho Philippines. Hai bên sẽ đồng ý gác lại vấn đề chủ quyền của các đảo và bãi đá ngầm đang tranh chấp. VN tất nhiên không "ăn theo" được gì trong phương án này trừ khi Philippines ép được TQ ký COC với ASEAN.

Nếu phương án này xảy ra và TQ "buông" Philippines nhưng vẫn tiếp tục chèn ép VN, chúng ta chỉ còn một con đường lôi TQ ra kiện giống Philippines. Ngoại trừ lợi thế án lệ của PvsC sẽ có lợi cho phần tranh tụng jurisdiction, vụ kiện VN vs TQ sẽ khó khăn hơn vì TQ sẽ có nhiều bài hơn. Chắc chắn "công hàm" Phạm Văn Đồng 1958 sẽ bị lôi ra cùng nhiều chứng cứ khác. Lần này TQ cũng có thể theo vụ kiện ngay từ đầu với một giàn luật sư/chuyên gia mạnh để áp đảo VN trong phần tranh tụng. Kết quả khả quan nhất mà VN có thể đạt được nếu không muốn thua trắng là một thỏa thuận ngoài tòa để chấm dứt sớm vụ kiện như Philippines. Nhưng chắc chắn VN sẽ không đạt được nhiều nhượng bộ từ TQ như Philippines và cũng phải chấp nhận treo lại vấn đề chủ quyền HS-TS.


Kết luận

Vụ kiện PvsC đã tạo ra một chấn động không chỉ trong giới luật gia mà cả vùng Đông-ĐNÁ. Nói theo GS Julian Ku đây là "game charger", nghĩa là một cú hích có thể làm đổi hướng bức tranh BĐ-HS-TS trong khu vực và cả tranh chấp Senkaku giữa Nhật và TQ. Những liên minh mới có thể hình thành, những hiệp định mới có thể được ký kết, thậm chí đụng độ quân sự có thể xảy ra sau phán quyết của tòa trọng tài. Cho đến thời điểm này VN vẫn chơi bài "wait and see", dù có thể vẫn đang âm thầm chuẩn bị hồ sơ khởi kiện nhưng lại rất hi vọng Philippines sẽ thắng tuyệt đối để mình được "ăn theo" mà không phải làm gì. Theo tôi đây không phải phương án tốt nhất cho VN. Chúng ta nên khởi kiện ngay cả trước khi trọng tài vụ PvsC tranh biện jurisdiction. Mục tiêu và cách thức kiện của VN có thể sẽ khác Philippines, đó là một "mặt trận thứ hai" cùng Philippines chống lại TQ. Tôi sẽ là viết về vấn đề này trong một entry tới.



Ghi chú
[1]: Tôi để chữ kiện trong ngoặc vì khái niệm này không đơn giản như đa số người Việt nghĩ. Tôi sẽ viết về vấn đề này trong một entry tiếp theo.
[2]: Tôi chỉ tìm thấy hai bài tương đối chi tiết của trọng tài VN Châu Huy Quang trên TBKTSG và của nhà báo Danh Đức trên TT.
[3]: Khác biệt quan trọng nhất giữa phương án xử tại một tòa cố định (ITLOS/ICJ) với tại một tòa trọng tài (Annex VII) là với tòa cố định hội đồng xét xử đã được định trước (vd ITLOS có 21 thẩm phán thường trực) trong khi các bên có thể chỉ định hội đồng trọng tài cho mình nếu xử theo Annex VII. Ngoài ra tòa án cố định đã có qui trình xử án chuẩn còn qui trình xử của trọng tài được 2 bên tranh chấp thỏa thuận sau khi hội đồng trọng tài được thành lập. Do vậy hai bên có thể thỏa thuận xử kín, không công bố thông tin và chi tiết phiên tòa, không như xử tại tòa án cố định luôn được công khai.
[4]: Julian Ku, giáo sư luật tại Hafstra University, cho rằng ngay cả nếu TQ tham dự phiên tòa trọng tài tại PCA nước này vẫn có khả năng tuyên bố không chấp nhận phán quyết của hội đồng trọng tài nếu bị xử thua, nghĩa là phán quyến này không có tính chất binding. Lập luận này phù hợp với các phân xử trọng tài thông thường nhưng theo tôi không đúng trong trường hợp UNCLOS.
[5]: Trong phần comment về bài của Stefan Talmon, Huy Duong (Dương Danh Huy?) đồng ý với lập luận của Talmon rằng tranh chấp giữa Philippines và TQ liên quan đến ranh giới biển. Update: Anh Dương Danh Huy cho biết ý anh không phải như vậy, xem cụ thể trong phần comment bên dưới.
[6]: Mặc dù cả Annex VI lẫn Annex VII đều có qui định về trường hợp một bên không theo kiện, nhưng điều đó không có nghĩa UNCLOS cho phép thành viên được quyền tẩy chay một vụ kiện do một thành viên khác khởi xướng theo đúng điều 287.
[7]: GS Robert Beckman có 2 bài, bài hoàn chỉnh link bên trên, một bài viết chi tiết hơn về UNCLOS ông yêu cầu không tự do trích dẫn nên tôi chỉ để link ở đây cho những ai quan tâm.
[8]: GS Julian Ku cho rằng TQ có thể rời bỏ vụ xử giữa chừng sau khi tòa tuyên bố họ có jurisdiction. Tuy nhiên điều này còn gây tiếng xấu cho TQ hơn là không theo ngay từ đầu.
[9]: TS Mark Valensia lại lập luận ngược lại. Ông này cho rằng nếu tòa chấp nhận jurisdiction và xử cho Philippines thắng thì UNCLOS sẽ mất uy tín vì kiểu gì TQ cũng sẽ không tuân lệnh tòa.




NEER/REER Update

Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/...