Thứ Năm, 6 tháng 11, 2008

Politics III


Sau khi Obama chiến thắng, S&P 500 đã giảm 5.2%, DJ giảm 5.1% trong ngày hôm sau (5/11). Nhiều người đặt câu hỏi đảng nào nắm quyền thì có lợi cho kinh tế Mỹ: Dân chủ hay Cộng hòa? Nếu chỉ nhìn vào lịch sử và chỉ nhìn vào thị trường chứng khoán thì đây là kết quả mà Binit Patel và Kevin Edegeley của Goldman Sachs đã tìm được:

Nếu loại trừ 2 outliers là nhiệm kỳ của Hoover (R) 1929-1933 DJ giảm 80% trong 4 năm và nhiệm kỳ của FDR (D) 1934-1937 DJ tăng 200% thì trung bình sau 4 năm cầm quyền của một tổng thống thuộc đảng Cộng hòa DJ tăng 35% so với 25% sau 4 năm dưới quyền Dân chủ. Nếu chỉ tính 3 tháng đầu tiên sau khi tổng thống tuyên thệ nhậm chức thì Cộng hòa cũng tốt hơn Dân chủ, dù không significant. Trong 18 đời tổng thống từ năm 1937, có 12 lần DJ tăng điểm trong 3 tháng đầu, 3 lần mất điểm và 3 lần không đổi. Trung bình DJ tăng 3.5% trong 3 tháng này.

Update (7/11): So far so ... bad. Ngày thứ 2 sau bầu cử DJ mất thêm 4.85% còn S&P500 mất 5%. Theo Jeremy Siegel (Wharton School), từ năm 1888, trung bình 3 ngày đầu tuần bầu cử (thứ 2 đến thứ 4) nếu Dân chủ thắng thì stock market sẽ mất 0.5%, trong khi nếu Cộng hòa thắng thì market lại tăng 0.7%. Tuy nhiên khi Siegel tính cho 4 năm nhiệm kỳ tổng thống thì kết quả là Dân chủ có return trung bình cao hơn, có điều Siegel không loại bỏ các outliers như tính toán của Goldman Sachs ở trên. Ngoài 2 outlier trong giai đoạn 29-33, có người còn chỉ ra 2 outliers nữa giai đoạn 2000/2001 khi tech bubble vỡ.

Update (7/11)Pedro Santa-Clara and Rossen Valkanov (UCLA) vừa có một paper trên Oct JoF cũng về vấn đề này. Kết luận của 2 tác giả này giống Siegel, Dân chủ có lợi hơn cho stock market. Tuy nhiên Hal Varian (Berkeley) cũng có vẻ nghi ngờ relationship này (spurious correlation).

Update (25/02/09): Tổng kết của macroman: stock market return sau 1 tháng các tổng thống nhận chức:



Thứ Tư, 5 tháng 11, 2008

SFP


Còn nhớ cách đây vài tháng khi VN đang ở đỉnh điểm của lạm phát và rất nhiều biện phát được đưa ra nhưng chưa phát huy tác dụng, lúc đó Bộ Tài chính thông báo sẽ phát hành thêm trái phiếu chính phủ để thu tiền mặt về. Thời điểm đó tôi có nhận xét BTC nếu làm như vậy sẽ là làm thay chức năng của NHNN và lý do có thể là NHNN lúc đó đã không còn nhiều trái phiếu chính phủ trong balance sheet để có thể thực hiện chức năng điều hành tiền tệ của mình.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ ở Mỹ, Fed đã đưa ra nhiều công cụ tiền tệ mới với mục đích bơm nhanh liquidity cho những phần nhất định trong hệ thống tài chính. Điều này làm base money tăng lên rất nhanh buộc Fed phải sterilize bằng cách bán ra Treasuries. Giữa năm 2007 Fed nắm giữ khoảng $800b Treasuries, đến cuối tháng 10/2008 chỉ còn gần $500b trong đó có $250b đã được cam kết off-balance sheet thông qua TSLF. Do đó khả năng Fed "cạn túi" là hoàn toàn có thể xảy ra nhất là càng ngày Fed càng cam kết cung cấp liquidity nhiều hơn.

Để giải quyết tình trạng nan giải này Treasury đưa ra một kế hoạch mới âm thầm "giải cứu" cho Fed: Supplemementary Financing Program (SFP). Về bản chất kế hoạch này giống hệt như những gì BTC VN đã làm mấy tháng trước đây. Nghĩa là Treasury phát hành thêm một số Treasury bills mới rồi chuyển toàn bộ số tiền mặt thu được này vào một tài khoản ở Fed gọi là SFP account. Như vậy base money sẽ không tăng nhiều nhưng balance sheet của Fed sẽ tăng lên rất nhanh, giúp cho Fed có khả năng thay đổi asset composition trong balance sheet của mình. Đây chính là điều mà Fed mong muốn: rút bớt các risky assets khỏi hệ thống để giảm bớt risk giữa các ngân hàng và khôi phục lại interbank lending.

Update (18/11): Treasury vừa tuyên bố sẽ đóng cửa dần SFP, đây là kết quả tất yếu khi Fed bắt đầu trả lãi suất cho số tiền các ngân hàng giữ trong reserve tại Fed. Từ nay Fed không cần sterialize qua OMO nữa mà chỉ cần thay đổi lãi suất trả cho reserve money là có thể điều phối money supply cho nền kinh tế.


iPod index


PPP là một trong những khái niệm kinh tế đơn giản nhất nhưng rất powerful mặc dù rất nhiều empirical tests không support ý tưởng này. (Ngoài lề: hầu hết các research sử dụng unit root test hay cointegration test đều reject PPP. Chỉ mới gần đây, nghĩa là khoảng 10 năm trở lại đây, các test sử dụng non-linear techniques như TAR/SETAR mới có kết quả positive. Hiện tại một bạn PhD người Việt ở ANU đang làm thesis về đề tài này). (Ngoài lề 2: PPP bên cạnh khái niệm kinh tế còn là tên một phương pháp tính tỷ giá mà World Bank đưa ra để có thể so sánh mức sống ở các nền kinh tế khác nhau. Bởi vậy cụm từ "GDP bình quân đầu người theo PPP" phải được hiểu là GDP đầu người được đổi ra một đơn vị tièn tệ không có thật là PPP dollar. Để tiện theo dõi, các nhà nghiên cứu của WB đặt 1 PPP dollar = 1 USD nhưng tỷ giá tất cả các đồng tiền khác với PPP dollar thường khác xa tỷ giá thị trường của đồng tiền đó với USD).

Ngoài project của WB về PPP, nhiều người có thể đã biết đến The Economist's Big Mac Index. Đây là cách tính tỷ giá giữa hai đồng tiền của hai nước cùng có nhà hàng McDonald bằng cách lấy giá của Big Mac (một sản phẩm truyền thống và phổ biến nhất của chuỗi nhà hàng McDonald) ở hai nước chia cho nhau. Ví dụ nếu Big Mac ở Mỹ có giá 1 USD còn ở VN là 10000 VNĐ thì tỷ giá PPP tính theo Big Mac sẽ là 1 USD = 10000 VNĐ, khác với tỷ giá thị trường của USD/VNĐ hiện đang khoảng 17000.

Tất nhiên ngoài Big Mac người ta có thể sử dụng bất kỳ loại hàng hóa nào đồng thời phổ biến ở nhiều nước, có cùng tiêu chuẩn chất lượng, và ít bị ảnh hưởng bởi thuế. Một trong những loại hàng hóa đó là iPod, máy nghe nhạc của Apple vừa được CommSec, một công ty chứng khoán của Úc, sử dụng để xây dựng một chuẩn PPP mới. Nếu tính theo cách này 1 AUD = 0.88 USD, so với hiện tại thị trường đang là 1 AUD = 0.68 USD. Tiếc là VN không nằm trong số các nước được CommSec thống kê. (Ngoài lề 3: Cách đây vài năm VCCI phối hợp với một nhóm economists nước ngoài tiến hành xây dựng một chỉ số cạnh tranh cho các tỉnh của VN. Trong project này có một phương pháp tính PPP cho các tỉnh sử dụng giá trung bình của một bát phở làm đơn vị qui đổi).

Trong giới tài chính và nhất là FX traders, tỷ giá PPP có vai trò như một reference rate so sánh với tỷ giá thị trường hiện tại. Tuy không nhiều traders dùng tỷ giá PPP như forecast, rât nhiều người dùng nó làm confirmation cho các forecast khác.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2008

DTCC


Depository Trust and Clearing Corp vừa công bố số liệu từ Warehouse của mình vể tổng số outstanding CDS: $33.6 trillion, trong đó $15.4tr được link với physical bonds (kể cả asset-backed) và $14.8tr link với các loại indexes. Theo Bank of America, tổng số notional amount là $37tr, và net exposure là $3.2tr. Tuy nhiên BofA cho rằng con số $3.2tr này vẫn overstate risk của CDS vì chưa tính đến different maturity hedging (nghĩa là bán CDS cho 5-year bond nhưng lại mua CDS 10-year bond). Ngoài ra cơ chế margin call (mark-to-market collateral) cũng làm giảm risk khi default event xảy ra.

Tuy nhiên theo BNP Paribas thì số liệu của DTCC chỉ cover khoảng 60% thị trường CDS (bản thân DTCC cho rằng con số này là 90%) và tập trung chủ yếu các transaction xoay quanh giới brokers/dealers. Do vậy tỷ lệ net/gross notional mới nhỏ như vậy. Đã có một số bằng chứng net exposure của một số ngân hàng châu Âu vào Lehman's CDS lớn hơn nhiều so với số liệu của DTCC và những ngân hàng này đang "âm thầm" giải quyết hậu quả chứ không tham gia vào phiên đấu giásettlemement vừa qua.




Update (09/11): Vẫn theo BNP Paribas thì DTCC data không bao trùm toàn bộ thị trường CDS và rủi ro của thị trường này cao hơn những gì DTCC tuyên bố. Ba đại gia bảo hiểm AIG, MBIA và Ambac được cho là đã underwrite một lượng lớn naked CDS đã đều mất AAA rating. Cuối tuần vừa rồi cả Ambac và MBIA bị mất thêm 1 bậc rating.



Politics II


1. Nếu market dự đoán đúng, chỉ vài giờ nữa Obama sẽ thắng cử. Xác suất sự kiện này hiện tại là 93% trên InTrade (Update: market đã không nhầm).

2. Brian Blase (qua Bryan Caplan) cho rằng McCain đã mắc sai lầm khi ủng hộ Paulson's plan. Nếu McCain lớn tiếng phản đối kế hoạch bailout này, McCain sẽ có hai cái lợi và có thể sẽ được thêm vote trong ngày hôm nay. Thứ nhất McCain sẽ giữ được conservative ideology của mình: không dùng bàn tay "hữu hình" để can thiệp vào hoạt động của bàn tay "vô hình". McCain có thể argue là "creative destruction" cần thiết để wipe out những Bear Stearns, Lehman, AIG, wipe out những con "cá mập" hay "bạch tuộc" ở Wall street để xây dựng lại một hệ thống tài chính mới. Đây là một quan điểm rất populist khi mà đa số dân chúng bất bình với kế hoạch giải cứu của Paulson. Điều này dẫn đến cái lợi thứ hai: McCain sẽ tách mình khỏi Bush administration trong khi đẩy Obama vào thế kẹt vì Obama ủng hộ kế hoạch bailout và sẽ bị assocciate với Bush/Paulson. Tại sao McCain không dùng tactic này?

Xem thêm politics về Paulson's plan ở đây.

3. Hôm nay học được một từ mới từ blog của Krugman: bloviating. Krugman đặt ra câu hỏi nếu Lehman được giữ cho sống sót đến đầu tháng 11 thì liệu kết quả bầu cử có khác đi? Giả sử Lehman tuyên bố phá sản vào cuối tuần trước, liệu McCain có thể lật ngược tình hình khi xoáy vào điểm "ít kinh nghiệm" của Obama khi cuộc bầu cử cận kề với một cuộc khủng hoảng?

4. John Tamny (qua Joseph Calhoun) cho rằng từ năm 1961, không cần xem kết quả poll hay phân tích chính trị, chỉ cần nhìn tỷ giá của đồng USD là có thể biết uy tín của tổng thống Mỹ đương nhiệm. Bất cứ khi nào USD mất giá thì tổng thống Mỹ bị cho là yếu (weak presidency). Lý do đơn giản là đô la yếu là hậu quả của inflation cao (PPP principle). Inflation lại là hậu quả của big government spending (deficit), thường liên quan đến các cuộc khủng hoảng hay suy thoái.

5. The Tyrrany of the Majority: Theo Joseph Calhoun, hiện tại 45% dân Mỹ không phải đóng thuế. Dù Obama hay McCain thành tổng thống, cái ngưỡng 50% sẽ không còn xa (có thể Obama có xu hướng tiến đến đó nhanh hơn). Lúc đó politics của Mỹ sẽ dần dần đi xa khỏi political economy và quan trọng hơn ý tưởng big government sẽ ngày càng thắng thế. Whither Capitalism?


Update: Evidence cho mục 4 ở trên: USD index during Bush's administration.



Update (08/11): Thêm một số số liệu về thuế của Mỹ.


Thứ Hai, 3 tháng 11, 2008

Economist


Mặc dù đầu vào của ngành Kinh tế không tồi (xem bảng kết quả GRE trong
entry trước), cuộc khủng hoảng này đã làm các nhà kinh tế học mất giá. Theo Tim Cowen nặng nhất là giới financial economists (Gary Gorton khó có thể kiếm được $1mil tư vấn cho AIG nữa),  còn theo Arnold Kling là macroeconomists. Nói riêng về macroeconomists, Michael Bryan và Linsey Molloy của Cleveland Fed đã tổng kết một nghiên cứu về độ chính xác của các dự báo kinh tế từ năm 1983 đến nay. Kết quả như sau:

Median GDP forecasts với độ chính xác +/-0.5% chỉ xảy ra 30% trong tổng số các forecast. Với median inflation forecast, kết quả có tốt hơn nhưng cũng chỉ là 39%. Nếu xét về mức độ tin cậy (confidence interval), để đảm bảo median forecast có xác suất 90% chính xác phải cộng thêm hoặc trừ đi con số đó 2.4%, nghĩa là nếu median GDP forecast là 3.4% thì khoảng "an toàn" là 1% đến 5.8%, đủ rộng để hầu như mọi scenario có thể xảy ra.

Xét từng forecaster, 53% đưa ra GDP forecast có độ chính xác kém random walk (xét theo MSE) và 41% cho inflation. Trong tổng số 79 forecasters chỉ có 28% có vẻ có forecast tốt hơn median (statistically insignificant) và chỉ có 2 người thực sự tốt hơn (significant). Trong khi đó có đến 6 người có (statistically significant) forecast kém hơn so với median.

Tóm lại, macroeconomists xét về tổng thể lẫn cá nhân đều rất kém. Cộng với public administrators kém thì không có gì khó hiểu thế giới cứ hết cuộc khủng hoảng này lại đến cuộc khủng hoảng khác.


Bad policies

No wonder why

(Source: CARPE DIEM)

NEER/REER Update

Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/...