Kể từ khi cuộc khủng hoảng xảy ra, ít nhất đã có 2 lá thư kiến nghị tập thể của các nhà kinh tế gửi cho các cơ quan thẩm quyển:
- Thư của các nhà kinh tế Mỹ ngày 24/09/2008 kêu gọi Quốc hội Mỹ không thông qua kế hoạch giải cứu hệ thống tài chính Mỹ do Paulson đề suất.
- Thư của các nhà kinh tế châu Âu ngày 01/10/2008 kêu gọi chính phủ các nước châu Âu và Ủy ban châu Âu cần có hành động chung để "giải cứu" hệ thông tài chính.
Còn nhớ cách đây không lâu VES cũng có kế hoạch viết thư kiến nghị tập thể gửi cho Quốc hội Việt nam.
Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008
Ideology vs Pragmatism
Mỹ vẫn được coi là "thiên đường" hay "thế giới" tự do, không chỉ so với các nước cộng sản mà còn so với châu Âu già cỗi. Tuy nhiên cả về mặt học thuật lẫn chính sách kinh tế (chứ không phải chính sách xã hội), châu Âu dường như vẫn conservative hơn (theo nghĩa đề xướng thị trường tự do và hạn chế can thiệp của chính phủ). Về mặt học thuật điển hình là Austrial school của châu Âu có lẽ vẫn cứng rắn hơn nhiều so với Chicago school của Mỹ. Về mặt chính sách điển hình là Taylor rule của Fed so với Inflation targeting của ECB và BoE.
Một trong những lý giải về đặc điểm này của Mỹ là tính thực dụng của người Mỹ (pragmatism). Người Mỹ trong những hoàn cảnh đặc biệt có thể bỏ ideology của mình để cứu vãn tình hinh. Ví dụ điển hình là những gì đang diễn ra trong vụ giải cứu hiện thời. Trong khi đó châu Âu có vẻ conservative hơn (theo nghĩa bảo thủ) trong việc bảo vệ ideology. Khi Paulson đưa ra kế hoạch giải cứu cách đây 2 tuần và đề nghị châu Âu cùng tham gia, cà Sakozy và Merkel đều lên tiếng dè bỉu.
Nhưng có lẽ châu Âu không còn giữ được ideology lâu nữa, nhất là sau khi Fortis đã được quốc hữu hóa tối qua.
Một trong những lý giải về đặc điểm này của Mỹ là tính thực dụng của người Mỹ (pragmatism). Người Mỹ trong những hoàn cảnh đặc biệt có thể bỏ ideology của mình để cứu vãn tình hinh. Ví dụ điển hình là những gì đang diễn ra trong vụ giải cứu hiện thời. Trong khi đó châu Âu có vẻ conservative hơn (theo nghĩa bảo thủ) trong việc bảo vệ ideology. Khi Paulson đưa ra kế hoạch giải cứu cách đây 2 tuần và đề nghị châu Âu cùng tham gia, cà Sakozy và Merkel đều lên tiếng dè bỉu.
Nhưng có lẽ châu Âu không còn giữ được ideology lâu nữa, nhất là sau khi Fortis đã được quốc hữu hóa tối qua.
Bailout +
Báo chí dường như là chỉ nhắc đến con số $700bn trong kế hoạch giải cứu của Paulson. Thực tế chi tiết về dự luật mà Hạ nghị viện Mỹ đã bỏ phiếu thông qua và TT Bush đã ký thành luật tối qua được CNN tóm tắt như sau:
Chống khủng hoảng tài chính: Tuy tổng số tiền được QH thông qua là $700bn, chỉ có $250bn Treasury được sử dụng ngay lập tức. Phần còn lại phải được Tổng thống (chưa biết là ai) và QH duyệt.
Bảo vệ taxpayers: như nhiều economists đã đề nghị, Treasury sẽ có quyền (warrant) mua cổ phiếu của các công ty tham gia vào chương trình giải cứu (bán troubled assets cho Treasury). Tổng thống cũng có thể đưa ra dự luật bắt buộc các công ty phải "bù lỗ" cho chính phủ nếu các troubled assets đó bị lỗ. Ngoài quyền mua lại trouble assets, Treasury cũng có quyền "bán bảo hiểm" cho các troubled assets (một dạng CDS nữa hay một FDIC cho MBS?).
Kiẻm soát lương/thưởng cho executives của các công ty được bailout: Treasury sẽ can thiệp trực tiếp vào mức lương/thưởng nếu phát hiện có gian dối trong sổ sách kế toán của các công ty này. (Ngoài lề: Sau khi Lehman phá sản, rất nhiều creditors đã yêu cầu điều tra các khoản thưởng cho cả executives và nhân viên của Lehman trong năm 2007. Rất có khả năng toàn bộ hoặc một phần số tiền này sẽ bị recall).
Giám sát: Sẽ có hai ủy ban giám sát hoạt động giải cứu của Treasury: Financial Stability Board và Congressional Oversight Panel.
Giản thuế: Để có thêm phiếu ủng hộ cho dự luật, một số mục giảm thuế thu nhập cho người giàu và doanh nghiệp cũng đã được đưa vào cùng với Paulson't plan từ hôm thứ Tư khi Thượng nghị viện bỏ phiếu. Coi như giúp các ông nghị có cách giải thích với cử tri của mình tại sao lại bỏ phiếu thuận.
Qui tắc kế toán: Cho phép SEC sửa lại luật kế toán, về cơ bản là giảm bớt yêu cầu mark-to-market đã làm điêu đứng nhiều công ty trong thời gian vừa qua.
Tăng bảo hiểm tiền gửi: Tăng giới hạn bảo hiểm tiền gửi từ $100k lên $250k và cho phép FDIC vay Treasury không giới hạn nếu FDIC bị lỗ.
Giảm phát mãi bất động sản: sẽ cho phép các cơ quan chính phủ liên quan đưa ra những biện pháp nhằm giúp đở những người vay bất động sản đang gặp khó khăn như cho phép các ngân hàng khấu trừ thu nhập chịu thuế số tiền lỗ do đồng ý giảm hoặc giãn nợ bất động sản cho người đi vay.
Tổng chi phí: Nếu tính cả chi phí do các đề mục giảm thuế đi kèm, tổng chi phí của cuộc giải cứu này tăng thêm $110bn thành $810bn.
Chống khủng hoảng tài chính: Tuy tổng số tiền được QH thông qua là $700bn, chỉ có $250bn Treasury được sử dụng ngay lập tức. Phần còn lại phải được Tổng thống (chưa biết là ai) và QH duyệt.
Bảo vệ taxpayers: như nhiều economists đã đề nghị, Treasury sẽ có quyền (warrant) mua cổ phiếu của các công ty tham gia vào chương trình giải cứu (bán troubled assets cho Treasury). Tổng thống cũng có thể đưa ra dự luật bắt buộc các công ty phải "bù lỗ" cho chính phủ nếu các troubled assets đó bị lỗ. Ngoài quyền mua lại trouble assets, Treasury cũng có quyền "bán bảo hiểm" cho các troubled assets (một dạng CDS nữa hay một FDIC cho MBS?).
Kiẻm soát lương/thưởng cho executives của các công ty được bailout: Treasury sẽ can thiệp trực tiếp vào mức lương/thưởng nếu phát hiện có gian dối trong sổ sách kế toán của các công ty này. (Ngoài lề: Sau khi Lehman phá sản, rất nhiều creditors đã yêu cầu điều tra các khoản thưởng cho cả executives và nhân viên của Lehman trong năm 2007. Rất có khả năng toàn bộ hoặc một phần số tiền này sẽ bị recall).
Giám sát: Sẽ có hai ủy ban giám sát hoạt động giải cứu của Treasury: Financial Stability Board và Congressional Oversight Panel.
Giản thuế: Để có thêm phiếu ủng hộ cho dự luật, một số mục giảm thuế thu nhập cho người giàu và doanh nghiệp cũng đã được đưa vào cùng với Paulson't plan từ hôm thứ Tư khi Thượng nghị viện bỏ phiếu. Coi như giúp các ông nghị có cách giải thích với cử tri của mình tại sao lại bỏ phiếu thuận.
Qui tắc kế toán: Cho phép SEC sửa lại luật kế toán, về cơ bản là giảm bớt yêu cầu mark-to-market đã làm điêu đứng nhiều công ty trong thời gian vừa qua.
Tăng bảo hiểm tiền gửi: Tăng giới hạn bảo hiểm tiền gửi từ $100k lên $250k và cho phép FDIC vay Treasury không giới hạn nếu FDIC bị lỗ.
Giảm phát mãi bất động sản: sẽ cho phép các cơ quan chính phủ liên quan đưa ra những biện pháp nhằm giúp đở những người vay bất động sản đang gặp khó khăn như cho phép các ngân hàng khấu trừ thu nhập chịu thuế số tiền lỗ do đồng ý giảm hoặc giãn nợ bất động sản cho người đi vay.
Tổng chi phí: Nếu tính cả chi phí do các đề mục giảm thuế đi kèm, tổng chi phí của cuộc giải cứu này tăng thêm $110bn thành $810bn.
Tổng số trang: Dự thảo ban đầu của Paulson dài chưa đến 3 trang A4, bản cuối cùng được QH và TT Mỹ thông qua dài hơn 450 trang.
Tên gọi chính thức: Emergency Economic Stabilization Act 2008, thay cho tên gọi không chính thức TARP (Troubled Asset Relief Plan).
Thứ Năm, 2 tháng 10, 2008
Bank leverage

Không rõ các ngân hàng của châu Âu phải tuân thủ theo Basel II đến mức nào. Tuy nhiên theo một báo cáo của CEPR thì mức độ leverage của các ngân hàng châu Âu rất cao. Cá biệt có ngân hàng leverage lên đến 60 lần, nghĩa là required capital ratio bằng 1/60 (1.7%) trong khi Basel II yêu cầu 8%. Vậy các ngân hàng châu Âu làm cách nào để có thể lách luật được?
Paul Kedrosky tìm ra câu trả lời sau khi tìm hiểu báo cáo tài chính cuối cùng của AIG. Trong tổng số $527bn CDS mà AIG đã underwrite có đến $397bn là cho các ngân hàng châu Âu. Đây chính là lỗ hổng trong luật mà AIG (cùng các rating agencies) đã giúp cho các ngân hàng giảm được required capital. Theo Basel II, assets khi tính capital ratio được điều chỉnh theo VaR và hiển nhiên những khoản nợ (bonds, notes, CDOs) có rating AAA sẽ được coi như an toàn tuyệt đối và tương đương như cash hay government bonds. Bởi vậy khi các ngân hàng mua CDS của AIG, vì AIG được rating AAA, nên bonds/notes được bảo hiểm của AIG cũng có cùng rating AAA (tương tự như trường hợp monoline Ambac và MBIA).
Update: US bank leverage
PMI
PMI = Purchasing Manager Index. Đây có lẽ là một leading indicator quan trọng nhất và được theo dõi nhiều nhất. Hiện tại hầu như ở tất cả các nước phát triển đều có một công ty tư nhân tổ chức survey số liệu này. Ngay cả các nước mới nổi (emerging economies) như Hàn quốc, Trung quốc, Nga cũng bắt đầu có thống kê PMI.
PMI bắt nguồn từ Institute of Supply Management của Mỹ (chỉ số PMI của Mỹ vẫn được gọi là ISM). Như tên gọi của nó, chỉ số này tổ hợp ý kiến của các purchasing managers, những người chịu trách nhiệm mua sắm máy móc và nguyên vật liệu cho công ty. Nếu những managers này lạc quan về tình hình đặt hàng và có nhu cầu tăng việc mua sắm thiết bị/nguyên vật liệu thì chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển tốt. PMI được normalize (chuẩn hóa?) để khi chỉ số này bằng 50 thì nền kinh tế đang phát triển bình thường, khi nó thấp hơn 50 thì có khả năng suy thoái. Hiện tại PMI của các nước (cho tháng 9/2008) như sau:
Mỹ (ISM): 43.5
Đức: 47.4
Pháp: 43
Ý: 44.4
Spain: 38.3
Hà lan: 49.8
Anh: 41
Thụy Sĩ: 47.8
Thụy Điển: 42.3
Đan mạch: 49.1
Úc: 47.2
Trung quốc: 51.2
Update: Trong vòng 30 năm qua, bất cứ khi nào chỉ số ISM của Mỹ xuống dưới 45, nền kinh tế Mỹ chắc chắn rơi vào suy thoái.
Dollar funding squeeze
Nguồn: Goldman Sachs.
Trong vòng khoảng 1 tuần trở lại, mặc dù tình hình thị trường Mỹ xấu đi rất nhiều và số liệu kinh tế Mỹ cũng không có gì sáng sủa, đồng dollar Mỹ tăng giá một cách lạ thường so với hầu như tất cả các đồng tiền lớn khác. Đối với Euro có thể do tình hình hệ thống ngân hàng châu Âu cũng đang gặp khó khăn và các nền kinh tế ở đây cũng có dấu hiệu suy thoái. Nhưng để USD tăng giá mạnh và đồng đều như vậy, lý do không chỉ ở các chỉ số kinh tế (fundamental).
Nhìn lại hai cột mốc khủng hoảng lớn kể từ khi subprime crisis bùng nổ: tháng 8/2007 và tháng 3/2008 có thể thấy một điểm chung là dollar funding squeeze. Nghĩa là các ngân hàng giữ USD lại không cho vay trên thị trường liên ngân hàng để phòng ngừa rủi ro thanh khoản. Trong cả hai đợt squeeze này, đồng Euro mất giá hơn 3% so với USD trong vòng vài ngày, sau đó Euro đảo chiều tăng lại hơn 5%. Điểm đặc biệt là khi Euro đảo chiều thì đồng Yen cũng mất giá so với USD vì investors quay lại carry-type stragegy.
Tuy nhiên lần này có thể sẽ khác vì tình hình châu Âu đã xấu hơn nhiều sơ với hai lần trước. ECB vừa tuyên bố giữ nguyên lãi suât nhưng Trichet đã dovish hơn nhiều. Ngoài ra $620bn swap lines giữa Fed và các central banks lớn khác sẽ là một shock absorber cho USD trong vài tuần tới. Cả Fed và ECB đều không muốn thấy USD giao động mạnh trong thời gian này, khi mà uncertainty về cuộc giải cứu của Paulson chưa rõ ràng.
Thứ Tư, 1 tháng 10, 2008
Liquidity vs Solvency
Ngân hàng nói riêng và các công ty tài chính nói chung có hai mối đe dọa chính đến sự tồn tại của mình: liquidity (khả năng thanh khoản?) và solvency (khả năng thanh toán?). Vì tầm quan trọng đặc biệt của hệ thống ngân hàng, các nước phát triển thường có những cơ chế trợ giúp cho các tổ chức này khi họ gặp phải một hoặc hai khó khăn trên.
Về nguyên tắc, ngân hàng trung ương có trách nhiệm trợ giúp liquidity (như discount window của Fed) còn bộ tài chính giúp đỡ phần solvency (như trường hợp bộ tài chính Thụy điển trợ giúp cho các ngân hàng này trong cuộc khủng hoảng ngân hàng 1992). Trong trường hợp trợ giúp liquidity, NHTƯ sẽ cho các NHTM vay, thường với lãi suất cao hơn target rate và có thế chấp bằng các tài sản an toàn như trái phiếu chính phủ. Bởi vậy về nguyên tắc NHTƯ sẽ có lợi nhuận từ việc trợ giúp liquidity này. Ngược lại, khi BTC trợ giúp solvency, các NHTM thường đã rơi vào hoàn cảnh thua lỗ và cẩn phải được bơm tiền trực tiếp vào capital base, cho nên đa số các cuộc trợ giúp solvency sẽ tốn kém cho ngân sách chính phủ, hay nói cách khác là có wealth transfer từ taxpayers sang bank owners.
Trong kế hoạch giải cứu ban đầu của Paulson (không có government ownership) có một điều nghịch lý là sự thành công của kế hoạch này chỉ có thể đạt được nếu underlying problem là liquidity chứ không phải solvency (see Richard Baldwin). Nhưng nếu vậy thì trách nhiệm giải cứu phải là của Fed chứ không phải của Treasury. Paulson có thể lập luận lần này khác, Fed không đủ tiềm lực để thực thi một kế hoạch giải cứu lớn như vậy. Nhưng Fed vừa rồi "giải cứu" cho các ngân hàng trung ương khác với tổng số committed money lên đến $620bn, không kém Paulson's plan là mấy (update: đến 01/10/2008 theo balance sheet của Fed, tổng số tiền Fed đã chi ra lên đến $1.25 trillion). Paulson lại có thể lập luận khủng hoảng lần này kết hợp cả liquidity lẫn solvency crisis nên mình Fed không giải quyết được. Nghe có vẻ có lý nhưng Paulson thừa biết rằng Treasury muốn dùng taxpayers' money để giải cứu thì sẽ phải xin phép QH, vừa phức tạp vừa mất thời gian. Tại sao không để Fed giải cứu phần liquidity trước rồi Paulson vào dọn dẹp các insolvent banks sau?
Conspiracy theory: Paulson muốn gộp chung hai cuộc giải cứu lại để buộc QH phải thông qua cùng một lúc. Nếu Fed giải cứu thành công liquidity crisis thì rất khó QH sẽ duyệt cho Paulson đem tiền của taxpayers đi giải cứu các CEOs giầu có ở Wall street.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
NEER/REER Update
Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/...
-
Mấy ngày nay báo chí VN đưa tin lạm phát tháng 10 đã âm (-0.19%), tuy nhiên vẫn là 26.72% yoy. Tháng 9/2008 CPI vẫn còn tăng 0.18%, vậy thán...
-
Báo chí dường như là chỉ nhắc đến con số $700bn trong kế hoạch giải cứu của Paulson. Thực tế chi tiết về dự luật mà Hạ nghị viện Mỹ đã bỏ ph...
-
Giang Le shared a post with you on Google+. Google+ makes sharing on the web more like sharing in real life. Learn more . Join Google+ Cuộc...
